Theo đánh giá của Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường Quốc hội, bên cạnh đóng góp tích cực, quá trình lập và thực hiện quy hoạch thủy điện đã nảy sinh một số bất cập. Ngoài ra, việc quản lý chất lượng, an toàn công trình thủy điện bộc lộ nhiều hạn chế.

Quy hoạch còn hạn chế
Báo cáo quy hoạch tổng thể về thủy điện (TĐ) của Chính phủ, được Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng trình bày ngày 30/10 cho thấy, tính đến tháng 9/2013, cả nước đã loại khỏi quy hoạch 6 dự án TĐ bậc thang (395MW) và 418 dự án TĐ nhỏ (1.174,49MW) do tác động tiêu cực lớn tới môi truờng- xã hội, hiệu quả thấp; đồng thời không xem xét quy hoạch 172 vị trí tiềm năng TĐ (375,65MW). Chính phủ cũng tạm dừng và chỉ đầu tư xây dựng sau năm 2015 nếu bảo đảm hiệu quả đối với 4 dự án TĐ bậc thang (208MW) và 132 dự án TĐ nhỏ (915,7MW).
Sau khi loại bỏ các dự án TĐ, cả nước hiện còn lại 815 dự án TĐ có tổng Nlm= 24.324,3MW. Trong đó, đã vận hành phát điện 268 dự án (14.240,5MW); đang thi công xây dựng 205 dự án (6.198,8MW).
Có thể thấy các dự án TĐ nhỏ bị loại bỏ nhiều nhất, do chủ yếu nằm trên các sông, suối nhánh với độ dốc lớn, lòng dẫn hẹp, không xây dựng được đập cao và hồ chứa lớn. Hầu hết dự án chỉ có nhiệm vụ phát điện, một số ít dự án có khả năng kết hợp cấp nước tưới, điều tiết bổ sung lưu lượng về mùa kiệt, giảm lũ nhỏ và làm chậm lũ cho hạ du. Một số dự án nằm trên địa bàn khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn nên tài liệu cơ bản thu thập được để lập quy hoạch còn hạn chế... Vì vậy, chất lượng quy hoạch TĐ nhỏ bộc lộ khá nhiều hạn chế, không ít dự án phải điều chỉnh sơ đồ khai thác và quy mô trong quá trình đầu tư.
|
Sau khi có báo cáo số 142/BC-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo tại văn bản số 7958/VPCP-KTN ngày 23/9/2013 về hai dự án TĐ Đồng Nai 6 và 6A. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ Công Thương đã loại hai dự án này ra khỏi quy hoạch.
|
Chất lượng công trình kém
Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường Quốc hội nhận thấy, có thời điểm, việc quản lý chất lượng công trình xây dựng hầu như được giao hoàn toàn cho chủ đầu tư thực hiện, tự chịu trách nhiệm; thiếu sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước. Tại một số công trình TĐ, chất lượng khâu khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát có nhiều hạn chế. Công tác quản lý an toàn tại các công trình TĐ nhỏ chưa thực sự tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Đối với các công trình TĐ nhỏ, gần 30% số đập chưa được kiểm định; chỉ 6% số chủ đầu tư hoàn thành cắm mốc chỉ giới; khoảng 66% đập chưa có phương án bảo vệ được phê duyệt. Hiệu quả làm việc của hệ thống quan trắc tại một số công trình TĐ là rất thấp.
Nguyên nhân của những bất cập trên do không ít chủ đầu tư dự án TĐ nhỏ có năng lực chuyên môn và tài chính hạn chế; quy định về chế tài xử phạt vi phạm về an toàn đập, kiểm định đập, vai trò, trách nhiệm, sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước và chủ đầu tư chưa được ban hành kịp thời và chưa được thực thi đầy đủ. Ngoài ra, thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên thường không đầy đủ và thiếu cập nhật do hạn chế nguồn lực đầu tư cho giai đoạn điều tra, khảo sát.
Nguồn:baocongthuong.com.vn