Tham luận: Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ tại tỉnh Khánh Hòa

04/11/2026 14:13        

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công nghiệp hỗ trợ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, thiết bị và các dịch vụ kỹ thuật đầu vào cho các ngành công nghiệp sản xuất, qua đó góp phần giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng trong nước, năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Đối với Khánh Hòa, phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển công nghiệp, nhất là các lĩnh vực gắn với kinh tế biển, công nghệ hàng hải, năng lượng, logistics, chế biến - chế tạo và các khu kinh tế, khu công nghiệp. Tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 xác định doanh nghiệp là trung tâm, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, đồng thời, hướng tới nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và năng lực cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam. Đây là định hướng quan trọng để các địa phương, trong đó có Khánh Hòa, chuyển từ cách tiếp cận “từ nâng cao năng lực doanh nghiệp đến hình thành hệ sinh thái và chuỗi giá trị công nghiệp”.

I. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA TỈNH KHÁNH HÒA

1. Khái quát tình hình chung

Thời gian qua, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam đã từng bước hình thành hệ thống doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, thiết bị và các sản phẩm đầu vào phục vụ nhiều ngành công nghiệp như cơ khí, điện tử, dệt may, da giày, năng lượng và công nghiệp công nghệ cao.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh xác định công nghiệp phải trở thành trụ cột, động lực tăng trưởng kinh tế, với định hướng phát triển công nghiệp theo cả chiều rộng và chiều sâu, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo đó, các lĩnh vực có tiềm năng phát triển công nghiệp hỗ trợ cần được tập trung vào một số chuỗi có lợi thế, thay vì phát triển dàn trải; bốn nhóm ngành ưu tiên phát triển gồm: công nghệ hàng hải và kinh tế biển; hệ thống năng lượng mới; logistics và hạ tầng chiến lược; chế biến giá trị cao, phụ trợ ngành may mặc, cụ thể:

- Công nghệ hàng hải và kinh tế biển: Tập trung nghiên cứu các sản phẩm như kết cấu thép, thiết bị cảng, thiết bị nâng hạ, phụ tùng tàu biển, cơ khí chế tạo, sửa chữa và bảo dưỡng.

- Hệ thống năng lượng mới: nghiên cứu phát triển thiết bị điện, tủ điện, cáp điện, kết cấu cơ khí, thiết bị điều khiển, cánh quạt gió và dịch vụ vận hành, bảo dưỡng phục vụ các dự án năng lượng trong tỉnh và khu vực.

- Logistics và hạ tầng chiến lược: phát triển thiết bị kho vận, cơ khí cảng, dịch vụ bảo trì thiết bị và các giải pháp số phục vụ quản lý chuỗi cung ứng.

- Chế biến giá trị cao: chú trọng thiết bị chế biến, bao bì, kho lạnh, vật liệu, kiểm định và truy xuất nguồn gốc, qua đó tạo liên kết giữa công nghiệp với nông nghiệp, thủy sản và hoạt động xuất khẩu.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 43 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, chiếm khoảng 4,4% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh và 9,5% tổng số lao động ngành công nghiệp. Một số doanh nghiệp tiêu biểu trong lĩnh vực này có thể kể đến như: Các công ty phụ trợ cho nhà máy đóng tàu HD Hyundai Việt Nam cung cấp các sản phẩm bao gồm thiết bị điện tàu, bảng điều khiển, cáp, phụ tùng, tự động hóa và dịch vụ kỹ thuật; Công ty TNHH ScaleAQ sản xuất thiết bị cơ khí và điện - điện tử cho nuôi biển; nhu cầu cảm biến, điều khiển, cáp, tủ điện; lĩnh vực dệt may bao gồm một số doanh nghiệp như: Công ty CP Dệt May Nha Trang (dệt, sợi); Công ty TNHH Vĩnh Phương (chuyên về vải demin), Công ty TNHH ISE (phụ liệu ngành may, dây khóa kéo), Công ty TNHH Đầu tư Vietsun Ninh Thuận…

2. Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh những kết quả bước đầu, phát triển công nghiệp hỗ trợ vẫn còn một số hạn chế:

- Một là, năng lực cung ứng của doanh nghiệp còn hạn chế: nhiều doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ, nguồn lực tài chính hạn chế, công nghệ và năng lực quản trị chưa đồng đều; khả năng đáp ứng đồng thời các yêu cầu về chất lượng, giá thành, sản lượng, tiến độ giao hàng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường còn hạn chế.

- Hai là, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp dẫn dắt chưa bền vững: việc thu hút các dự án đầu tư lớn chưa phải lúc nào cũng đi kèm với chương trình phát triển nhà cung cấp trong nước. Khoảng cách về vốn, công nghệ, quản trị và nguồn nhân lực khiến nhiều doanh nghiệp trong nước khó trở thành nhà cung ứng của các doanh nghiệp dẫn dắt.

- Ba là, chính sách và các dịch vụ hỗ trợ chưa thật sự đồng bộ: công nghiệp hỗ trợ liên quan đồng thời đến đầu tư, tài chính, đất đai, khoa học và công nghệ, đào tạo, môi trường, thương mại và logistics. Khi chính sách được triển khai phân tán, doanh nghiệp phải tiếp cận nhiều đầu mối, trong khi nhu cầu thực tế lại cần một chuỗi hỗ trợ liên hoàn từ đánh giá năng lực - tư vấn cải tiến - thử nghiệm - chứng nhận - kết nối đơn hàng.

- Bốn là, hạ tầng và dịch vụ kỹ thuật chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu: doanh nghiệp sản xuất linh kiện, thiết bị cần mặt bằng phù hợp, điện và nước ổn định, logistics, xử lý môi trường, phòng thử nghiệm, kiểm định và đào tạo nhân lực. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ không thể chỉ dừng ở việc bố trí đất cho doanh nghiệp mà phải gắn với hạ tầng kỹ thuật và hệ sinh thái dịch vụ dùng chung.

- Năm là, nguồn nhân lực kỹ thuật và năng lực đổi mới công nghệ còn là điểm nghẽn: để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, doanh nghiệp cần đội ngũ kỹ thuật có năng lực về cơ khí chính xác, điện - điện tử, tự động hóa, vật liệu, khuôn mẫu, quản trị chất lượng và quản trị sản xuất.

II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Từ những thực tiễn triển khai phát triển công nghiệp hỗ trợ, Khánh Hòa rút ra một số bài học kinh nghiệm và hướng tiếp cận chủ yếu sau:

1. Gắn phát triển công nghiệp hỗ trợ với định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh: Kinh nghiệm quan trọng là không phát triển công nghiệp hỗ trợ theo cách “có gì làm nấy”, mà phải xuất phát từ ngành công nghiệp dẫn dắt và lợi thế của địa phương, từ đó xác định những sản phẩm, linh kiện, vật liệu và dịch vụ đầu vào cần phát triển. Cách tiếp cận này giúp nguồn lực của tỉnh được tập trung vào những ngành có khả năng hình thành thị trường thực tế và có triển vọng liên kết vùng.

2. Từng bước chuyển từ hỗ trợ doanh nghiệp sang phát triển nhà cung ứng: Thay vì hỗ trợ dàn trải, định hướng mới là xác định nhu cầu của doanh nghiệp dẫn dắt, lựa chọn doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng, hỗ trợ nâng cấp, thử nghiệm, chứng nhận và kết nối đơn hàng. Quy trình được xác định theo chuỗi: Doanh nghiệp dẫn dắt → nhu cầu linh kiện, vật liệu → tiêu chuẩn kỹ thuật → doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng → hỗ trợ nâng cấp → thử nghiệm, chứng nhận → đơn hàng → mở rộng sản xuất.

3. Gắn phát triển công nghiệp hỗ trợ với không gian khu, cụm công nghiệp: Một khu công nghiệp không chỉ là nơi cung cấp mặt bằng sản xuất mà cần từng bước trở thành không gian liên kết chuỗi, trong đó có doanh nghiệp dẫn dắt, doanh nghiệp cung ứng, logistics, năng lượng, xử lý môi trường, trung tâm kỹ thuật, đào tạo và nghiên cứu phát triển.

4. Định hướng thu hút đầu tư gắn với hiệu ứng lan tỏa: Kinh nghiệm được đặt ra là chuyển từ tư duy thu hút đầu tư theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu ứng lan tỏa. Khi xem xét các dự án đầu tư, cần quan tâm không chỉ đến quy mô vốn mà còn đến các câu hỏi: dự án tạo ra thị trường gì cho doanh nghiệp Việt Nam; khả năng hình thành nhà cung ứng trong nước như thế nào; có chương trình phát triển nhà cung cấp hay không; khả năng chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực ra sao.

5. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực gắn với nhu cầu doanh nghiệp: Doanh nghiệp cần được tham gia trực tiếp vào xác định chương trình đào tạo, tiêu chuẩn nghề, đào tạo tại doanh nghiệp, đánh giá kỹ năng và tuyển dụng sau đào tạo. Đối với Khánh Hòa, trước mắt cần quan tâm nhân lực cho cơ khí chính xác, điện - điện tử, tự động hóa, vật liệu, thiết bị hàng hải, năng lượng, logistics và quản trị chất lượng.

6. Tăng cường phối hợp giữa các ngành, địa phương và doanh nghiệp: Công nghiệp hỗ trợ có tính liên ngành và liên vùng cao. Do đó, không thể phát triển theo ranh giới hành chính đơn thuần. Khánh Hòa định hướng tham gia mạng lưới phân công sản xuất theo lợi thế của địa phương, tăng cường liên kết với các tỉnh trong vùng Nam Trung Bộ, đồng thời tránh hình thành những hệ sinh thái công nghiệp khép kín, trùng lặp.

III. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP THỜI GIAN TỚI

Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định các lĩnh vực tăng trưởng quan trọng, trong đó có lĩnh vực kinh tế biển, công nghệ hàng hải, năng lượng tái tạo, năng lượng mới, chế biến giá trị cao, hạ tầng và kết nối chiến lược. Tỉnh Khánh Hòa không đặt mục tiêu phát triển đầy đủ mọi ngành công nghiệp hỗ trợ mà tập trung vào những chuỗi ngành phù hợp với lợi thế của tỉnh và vùng Nam Trung Bộ, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển các lĩnh vực quan trọng đã xác định trong các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, Quy hoạch tỉnh, trong đó:

1. Tập trung phát triển một số chuỗi ưu tiên

- Thứ nhất, đối với công nghệ hàng hải và kinh tế biển, ưu tiên các sản phẩm, dịch vụ như kết cấu thép, thiết bị cảng, thiết bị nâng hạ, phụ tùng tàu biển, cơ khí chế tạo, sửa chữa và bảo dưỡng.

- Thứ hai, đối với hệ thống năng lượng mới, nghiên cứu phát triển thiết bị điện, tủ điện, cáp điện, kết cấu cơ khí, thiết bị điều khiển và dịch vụ vận hành, bảo dưỡng phục vụ các dự án năng lượng trong tỉnh và khu vực.

- Thứ ba, đối với logistics và hạ tầng chiến lược, phát triển thiết bị kho vận, cơ khí cảng, dịch vụ bảo trì thiết bị và giải pháp số phục vụ quản lý chuỗi cung ứng.

- Thứ tư, đối với chế biến giá trị cao, chú trọng thiết bị chế biến, bao bì, kho lạnh, vật liệu, kiểm định và truy xuất nguồn gốc, tạo liên kết giữa sản xuất công nghiệp với nông nghiệp, thủy sản và xuất khẩu.

2. Xây dựng bản đồ cung cầu công nghiệp hỗ trợ

Tỉnh cần rà soát từng khu kinh tế, khu công nghiệp và cụm công nghiệp để xác định doanh nghiệp đang hoạt động, nhu cầu nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng, dịch vụ kỹ thuật, năng lượng và logistics; đồng thời đánh giá năng lực của các doanh nghiệp có thể cung ứng tại chỗ hoặc trong vùng. Kết quả rà soát là cơ sở xây dựng danh mục sản phẩm ưu tiên, chương trình xúc tiến đầu tư và kế hoạch phát triển nhà cung ứng.

3. Hình thành đầu mối hỗ trợ và chương trình phát triển nhà cung ứng

Cần giao một đầu mối cấp tỉnh phối hợp với các cơ quan, hiệp hội và doanh nghiệp dẫn dắt để tiếp nhận nhu cầu, đánh giá năng lực doanh nghiệp, tư vấn nâng cấp và kết nối đơn hàng. Hằng năm, tổ chức chương trình kết nối nhà cung ứng, lựa chọn một số doanh nghiệp có tiềm năng để hỗ trợ chuyên sâu về quản trị chất lượng, tiêu chuẩn, chuyển đổi số, sản xuất xanh và tiếp cận tín dụng.

4. Phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng kỹ thuật dùng chung

Doanh nghiệp cần tham gia trực tiếp vào việc xác định chương trình đào tạo, tiêu chuẩn nghề, đào tạo tại doanh nghiệp và đánh giá kỹ năng. Trước mắt, ưu tiên nhân lực cho cơ khí chính xác, điện - điện tử, tự động hóa, vật liệu, thiết bị hàng hải, năng lượng, logistics và quản trị chất lượng. Đồng thời, nghiên cứu phát triển hoặc liên kết sử dụng trung tâm kỹ thuật, phòng thử nghiệm, kiểm định và thiết bị sản xuất thử dùng chung theo mô hình vùng.

IV. KIẾN NGHỊ

Nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp để hình thành năng lực sản xuất trong nước, nâng cao khả năng tự chủ về công nghiệp, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, thiết bị đầu vào, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng “02 con số” hướng đến mục tiêu phát triển công nghiệp quốc gia bền vững, tự chủ và hiện đại. Trên cơ sở thực tiễn phát triển công nghiệp tại tỉnh thời gian qua, tỉnh Khánh Hòa có một số kiến nghị như sau:

1. Về định hướng, tầm nhìn phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2045

Mục tiêu đến năm 2045 là xây dựng Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển tự chủ, hiện đại, thì công nghiệp hỗ trợ phải chuyển sang giai đoạn làm chủ công nghệ và làm chủ chuỗi giá trị; khi đó, mục tiêu không chỉ là “Doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp nước ngoài” mà phải hướng tới mục tiêu “Doanh nghiệp Việt Nam có khả năng dẫn dắt một số chuỗi cung ứng, sở hữu công nghệ, thiết kế sản phẩm, làm chủ vật liệu, linh kiện và thiết bị cốt lõi.”. Đến năm 2045, Việt Nam cần hình thành một số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có công nghệ lõi; thương hiệu; năng lực thiết kế; tiêu chuẩn quốc tế; mạng lưới sản xuất khu vực; khả năng xuất khẩu sản phẩm.

2. Về thể chế: Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng ổn định, dài hạn, dễ tiếp cận, có trọng tâm. Đồng thời, nghiên cứu hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa chính sách công nghiệp hỗ trợ với chính sách đầu tư, thương mại, khoa học công nghệ, đào tạo và tài chính. Cụ thể: Sớm xây dựng, ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ, Quyết định thay thế Quyết định số 10/2017/QĐ-TTg ngày 03/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế quản lý và thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ.

3. Về nguồn lực: Có cơ chế bố trí nguồn lực đủ mạnh cho các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ có tính chiến lược, nhất là công nghệ; phòng thử nghiệm; trung tâm kỹ thuật; đào tạo; chuyển đổi số; đổi mới sáng tạo.

4. Về tín dụng: Có cơ chế tín dụng phù hợp hơn với đặc thù doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, cơ chế tín dụng trung và dài hạn phù hợp với chu kỳ đầu tư của ngành; đặc biệt, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư máy móc, khuôn mẫu, dây chuyền trước khi có đơn hàng lớn.

5. Về đất đai và hạ tầng: Có cơ chế hỗ trợ hình thành khu, cụm hoặc phân khu chuyên biệt cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, có hạ tầng kỹ thuật phù hợp và dịch vụ dùng chung.

6. Về phát triển thị trường: Đề nghị xây dựng cơ chế để các doanh nghiệp dẫn dắt, tập đoàn lớn công bố nhu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật của chuỗi cung ứng ở mức phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận.

7. Về dữ liệu: Đề nghị xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghiệp hỗ trợ, kết nối: doanh nghiệp – sản phẩm – công suất – tiêu chuẩn – nhu cầu – đơn hàng – thị trường. Đây có thể trở thành hạ tầng thông tin quan trọng của chính sách công nghiệp hỗ trợ.

8. Về phân cấp cho địa phương: Đề nghị Trung ương xác định rõ hơn trách nhiệm của địa phương trong phát triển công nghiệp hỗ trợ, đồng thời, phân cấp cho địa phương chủ động xây dựng các chương trình phù hợp với lợi thế và chuỗi ngành. Tuy nhiên, cần tránh tình trạng mỗi địa phương tự xây dựng một hệ sinh thái khép kín; thay vào đó, cần khuyến khích liên kết vùng và phân công sản xuất giữa các địa phương.

Tác giả: Minh Trang – CV Phòng QLCN

 
Đường dây nóng

Chuyendoiso

ISO

ND552019ndcp

hiepdinhCPTPP

rcep

EVFTA

thủ tục HC