Năng suất, chất lượng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, vấn đề nâng cao năng suất, chất lượng đang là mục tiêu có tầm chiến lược trong các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế Việt Nam. Vì vậy, ngày 21/5/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 712/QĐ-TTg phê duyệt Đề án quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”.
Theo các chuyên gia kinh tế, khi các động lực tăng trưởng kinh tế đã dần tới hạn, khi cách thức tăng trưởng cũ (chủ yếu dựa vào việc gia tăng vốn đầu tư, thâm dụng lao động chi phí thấp và khai thác tài nguyên...) đã không còn phù hợp, thì đòn bẩy cho tăng trưởng bền vững chính là vấn đề tăng năng suất.
Tuy nhiên, Việt Nam hiện tại vẫn đang có một khoảng cách lớn về năng suất lao động giữa các ngành, cũng như khi so sánh với các nước khác trong cùng khu vực.
Theo Tổng cục Thống kê, năng suất lao động (NSLĐ) toàn nền kinh tế Việt Nam theo giá hiện hành năm 2017 ước tính đạt 93,2 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 4.159 USD/lao động). NSLĐ của Việt Nam thời gian qua tuy có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN nhưng hiện nay vẫn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực. Tính theo sức mua tương đương (PPP) năm 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7% của Singapore; bằng 17,6% của Malaysia; bằng 36,5% của Thái Lan; bằng 42,3% của Indonesia; bằng 56,7% của Philippines và bằng 87,4% NSLĐ của Lào. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy, chênh lệch mức NSLĐ (tính theo PPP năm 2011) của Singapore và Việt Nam tăng từ 115.087 USD năm 2006 lên 131.333 USD năm 2016; tương tự, của Malaysia từ 39.806 USD lên 46.190 USD; Thái Lan từ 14.591 USD lên 17.208 USD; Indonesia từ 10.100 USD lên 13.496 USD; Philippines từ 6.691 USD lên 7.561 USD; Lào từ 220 USD lên 1.422 USD…
Tại tỉnh Khánh Hoà, nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngày 26 tháng 8 năm 2015 Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Quyết định số 2343/QĐ-UBND về trợ giúp phát triển DNNVV tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2016-2020 với kinh phí khoảng 46 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách Trung ương khoảng 4 tỷ đồng, nguồn vốn ngân sách địa phương khoảng 30,7 tỷ đồng, nguồn vốn xã hội hóa khoảng 11,3 tỷ đồng. Kèm theo kế hoạch này, ngày 31 tháng 3 năm 2016 Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Quyết định số 815/QĐ-UBND về việc phê duyệt “Dự án nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020” nhằm trợ giúp các doanh nghiệp với tổng kinh phí hàng chục tỷ đồng.
Năm 2016, dự án đã hỗ trợ cho Phân viện Thú y miền Trung tham dự giải thưởng chất lượng quốc gia; hỗ trợ 11 cơ sở về việc cấp giấy chứng nhận mã số, mã vạch; 4 cơ sở được hướng dẫn và hoàn thành việc in nhãn hàng hóa theo quy định; 1 cơ sở xây dựng tiêu chuẩn cơ sở sản phẩm, hàng hóa. Tổ chức 2 lớp đào tạo nhận thức về năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa cho các đối tượng là lãnh đạo, quản đốc, công nhân của 19 doanh nghiệp thuộc ngành nghề chủ lực của tỉnh như: sản xuất thực phẩm, thức ăn gia súc, xây dựng, cơ khí, thủ công mỹ nghệ…
Năm 2017, dự án tổ chức 6 lớp đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng kiến thức về năng suất, chất lượng cho công chức, viên chức của các sở, ban, ngành liên quan và DN; hướng dẫn xây dựng, áp dụng, công bố và chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy cho các sản phẩm, hàng hóa… Bên cạnh đó, dự án còn hỗ trợ kinh phí cho khoảng 10 DN tham gia dự án với các nội dung như: áp dụng các biện pháp về hệ thống quản lý tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng, tham gia giải thưởng chất lượng quốc gia, đổi mới công nghệ… Tổng kinh phí thực hiện hơn 1 tỷ đồng.

Tuy nhiên để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu như sau:
1. Nhóm giải pháp hoàn thiện khung pháp lý
Tiếp tục triển khai thực hiện quy định pháp lý chung cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cách hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, đăng ký kinh doanh, chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy phép xây dựng…Thực hiện công khai, minh bạch về quy hoạch, tài chính, ngân sách, dự án đầu tư. Cải cách thể chế pháp luật, nâng cao năng lực quản trị nhà nước, cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí giao dịch cho nền kinh tế.
2. Nhóm giải pháp về giáo dục, đào tạo
Để cải thiện năng suất lao động, Nhà nước cần ưu tiên bố trí ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhằm cải thiện trình độ và kỹ năng lao động, giúp người lao động. Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến năng suất lao động thấp chính là chất lượng giáo dục - đào tạo và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, thiếu lao động chất lượng cao, chưa chú trọng đào tạo lại và đào tạo nâng cao.
3. Nhóm giải pháp về chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển
3.1. Giải pháp hỗ trợ tiếp cận nguồn tài chính:
Các ngân hàng thương mại tổ chức các lớp tập huấn cho doanh nghiệp về quy trình và thủ tục vay vốn, kiến thức và kỹ năng xây dựng – quản lý dự án đầu tư, đơn giản hóa thủ tục vay vốn; đổi mới các dịch vụ cung cấp cho DNNVV.
3.2. Giải pháp tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất:
Tiếp tục triển khai xây dựng các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch tạo điều kiện cho DNNVV có mặt bằng sản xuất ổn định và hưởng các chính sách ưu đãi trong khu, cụm công nghiệp.
3.3. Giải pháp về liên kết chuỗi sản xuất:
Khuyến khích phát triển, tăng cường sự liên kết chuỗi giữa các DN nhằm hợp tác sản xuất sản phẩm, sản xuất linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
3.4. Giải pháp hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ kỹ thuật
Hỗ trợ đào tạo các chuyên gia trực tiếp triển khai các hoạt động nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp và hỗ trợ kinh phí để doanh nghiệp ứng dụng các hệ thống quản lý tiên tiến, công cụ cải tiến cơ bản, xây dựng mô hình cải tiến năng suất chất lượng cho các doanh nghiệp thuộc ngành nghề chủ lực của địa phương… Hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua rào cản kỹ thuật, tăng cường hội nhập quốc tế bằng việc tiếp tục xây dựng các cơ sở dữ liệu về quy chuẩn kỹ thuật, thông tin về cơ sở thử nghiệm và chỉ tiêu thử nghiệm, văn bản quy phạm pháp luật về tiêu chuẩn đo lường chất lượng đến DNNVV.
3.5. Giải pháp, chính sách tiếp cận thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh
Tạo điều kiện và trợ giúp DNNVV trong việc khảo sát, học tập, trao đổi, tham gia hội chợ trong, ngoài tỉnh và nước ngoài (thông qua chương trình xúc tiến thương mại).
3.6. Giải pháp hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp
Hỗ trợ DNNVV trong đào tạo nghề, truyền nghề tại doanh nghiệp khi có nhu cầu. Tổ chức các khóa giám đốc điều hành (CEO), khởi sự doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp, các chuyên đề khác theo yêu cầu của doanh nghiệp.
3.7 Giải pháp khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
Khuyến khích các DN nhỏ và vừa đổi mới, sáng tạo, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu từ các hoạt động có giá trị gia tăng thấp sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao, bằng cách tăng cường nguồn vốn con người và tăng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển. Khuyến khích DN đầu tư cho khoa học và công nghệ, là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm…
3.8 Giải pháp hội nhập kinh tế quốc tế
Khuyến khích doanh nghiệp chủ động hội nhập quốc tế, khai thác có hiệu quả các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp kết nối có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu và từng bước tạo lập được thương hiệu riêng.
Với các giải pháp cơ bản nêu trên, hy vọng các DNNVV trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà sẽ đứng vững trên thị trường trong nước và từng bước sẽ vươn ra thị trường thế giới.
Hoàng Long