Hội thảo “Sản xuất thực phẩm an toàn...”

10/06/2013 12:28        

        Sáng nay, 11/6, đã diễn ra Hội thảo “Sản xuất thực phẩm an toàn trong xây dựng và phát triển thương hiệu bền vững” do Báo Công Thương, Vụ Khoa học và Công nghệ, Vụ Công nghiệp nhẹ (Bộ Công Thương) phối hợp tổ chức. Hội thảo có sự tham dự của Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa.

        Hội thảo còn có sự tham dự của đại diện một số cục, vụ của Bộ Công Thương, đại diện một số bộ, ngành, hiệp hội, hội, các Sở Công Thương và hơn 100 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực trong ngành công nghiệp thực phẩm như: Bia - rượu - nước giải khát; chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa; dầu thực vật; chế biến bột và tinh bột...

        Hội thảo tập trung vào 3 vấn đề chính: Sản xuất thực phẩm an toàn; Xây dựng và phát triển thương hiệu bền vững; Một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thời kỳ hội nhập.

        Để bạn đọc có thể theo dõi nhanh nội dung của Hội thảo, Công Thương điện tử sẽ liên tục cập nhật những phát biểu tham luận của các đại biểu và những nội dung trao đổi trực tiếp giữa các doanh nghiệp với các nhà quản lý, giữa bạn đọc của báo Công Thương với nhà quản lý, doanh nghiệp tại Hội thảo.

Bảo đảm an toàn thực phẩm là nhiệm vụ quan trọng

 

Phát biểu chỉ đạo hội thảo của Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa

        Bảo đảm an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề mà từ lâu đã được Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm, coi đây là nhiệm vụ liên quan đến phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ giống nòi và còn ảnh hưởng lớn đến tiến trình hội nhập của Việt Nam. Nhằm tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ của nhân dân trong tình hình mới, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo, ban hành nhiều chính sách về an toàn thực phẩm như Kết luận số 46-NQ-TW, Nghị quyết số 34/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, Luật An toàn thực phẩm số 55/QH12 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 1/5/2010.

        Qua hơn hai mươi năm xây dựng và phát triển, ngành Công nghiệp thực phẩm đã từng bước đáp ứng nhiều sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân, phục vụ nhu cầu trong nước, thay thế nhập khẩu và tham gia xuất khẩu với sự đa dạng về mẫu mã, chủng loại. Nhiều sản phẩm đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay, ngành Công nghiệp thực phẩm Việt Nam đạt khoảng 20% PIB (tổng sản lượng nội địa). Trong giai đoạn qua, để giải quyết việc làm, bảo đảm đời sống nhân dân và ổn định tình hình xã hội, tận dụng thế mạnh về nguồn nhân lực, phù hợp với hoàn cảnh và tiềm lực nước ta trong những năm đầu phát triển công nghiệp, Việt Nam đã dành sự quan tâm lớn cho việc phát triển ngành Công nghiệp thực phẩm và tiêu dùng.

        Qua những giai đoạn phát triển khác nhau, hiện nay ngành Công nghiệp thực phẩm Việt Nam do Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm một số ngành kinh tế kỹ thuật chính là: ngành rượu - bia - nước giải khát; ngành chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa; ngành dầu thực vật; ngành công nghiệp kỹ nghệ thực phẩm; ngành chế biến bột và tinh bột; ngành công nghiệp sản xuất thuốc lá. Nhằm quản lý chặt chẽ cũng như tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ, bền vững ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ban ngành đã phê duyệt chiến lược, quy hoạch các ngành trên và ban hành các văn bản pháp quy phù hợp với từng giai đoạn phát triển và tầm nhìn cho các giai đoạn tiếp theo.

        Để ngành công nghiệp thực phẩm phát triển ổn định và bền vững, thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường; Chỉ thị số 13/CT-BCT ngày 17/8/2012 của Bộ trưởng Bộ Công Thương Về việc thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; giúp các DN tăng cường hơn nữa cơ sở pháp lý, định hướng kinh doanh trong việc đảm bảo ATVSTP và xây dựng, bảo vệ thương hiệu của mình trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, nhiều thông tin sai lệch về chất lượng sản phẩm, làm ảnh hưởng tới thương hiệu và sức tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp trên thị trường trong thời gian qua, Bộ Công Thương giao Báo Công Thương phối hợp với Vụ Khoa học và Công nghệ và Vụ Công nghiệp nhẹ tổ chức Hội thảo: “Sản xuất thực phẩm an toàn trong xây dựng và phát triển thương hiệu bền vững”.

        Hội thảo hôm nay đồng thời là cơ hội để các nhà quản lý, các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp, các địa phương tập trung trao đổi hai vấn đề lớn, đó là: Sản xuất thực phẩm an toàn và công tác xây dựng, phát triển thương hiệu bền vững. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp cụ thể, hữu hiệu nhằm thúc đẩy và nâng cao hơn nữa vai trò ngành công nghiệp thực phẩm, tiêu dùng Việt Nam.

 Ngành công nghiệp thực phẩm - Vài nét chấm phá

Trích tham luận của ông Bùi Trường Thắng - Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ (Bộ Công Thương)

Bia- rượu- nước giải khát -  Hiệu quả kinh tế cao

        Hiện Bia- rượu- nước giải khát là một trong những ngành sản xuất phát triển, có hiệu quả kinh tế cao, thu hút gần 40 ngàn lao động trực tiếp với thu nhập bình quân cao so với mức trung bình của xã hội là 8 triệu đồng/người/tháng; giá trị sản xuất công nghiệp chiếm 4,69% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp.

        Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân ngày càng tăng, quy mô của ngành Bia- rượu- nước giải khát tăng mạnh: Năm 2012 toàn ngành có 1.242 doanh nghiệp (DN) sản xuất, tăng 475 DN so với năm 2000, trong đó có 151 DN sản xuất bia với tổng năng lực sản xuất 3.913 triệu lít/năm (SABECO, VBL và HABECO chiếm 51,96%), sản lượng năm 2012 là 2.832 triệu lít, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước.

        Ngành Bia- rượu- nước giải khát đang áp dụng công nghệ, thiết bị hiện đại, tiên tiến tại các nhà máy sản xuất bia quy mô lớn như HABECO, SABECO, Công ty bia Việt Nam. Đa số các DN bia, rượu, nước giải khát sản xuất theo quy mô công nghiệp đã và đang xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 22.000 và HACCP...

Sữa - Phát triển nhanh, công nghệ hiện đại

        Ngành sữa là một trong những ngành phát triển nhanh, giải quyết việc làm ổn định cho khoảng 10.000 lao động với mức thu nhập bình quân trên 8 triệu đồng/người/tháng; tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20%/năm, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư từ năm 2000 trở lại đây luôn cao hơn 15%; tốc độ tăng lợi nhuận trong giai đoạn từ 2001-2010 đạt 19,94%/năm. Hiện nay, tổng năng lực sản xuất của toàn ngành sữa khá lớn: Sữa đặc có đường 796,2 triệu hộp/năm, sữa bột 101,5 ngàn tấn/năm, sữa thanh trùng và tiệt trùng 778,3 ngàn tấn/năm và sữa chua 150,8 ngàn tấn/năm. Sản phẩm của ngành phong phú, mẫu mã bao bì đa dạng với trên 300 chủng loại sản phẩm, chất lượng, khẩu vị ngày càng được cải thiện, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

        Về thiết bị, công nghệ của ngành sữa được đầu tư với quy mô hoàn chỉnh, hiện đại, là một trong số ít các ngành có trình độ công nghệ ngang bằng so với trình độ công nghệ tiên tiến của ngành sữa thế giới. Các nhà máy được đầu tư dây chuyền thiết bị đồng bộ khép kín, tự động hóa từ khâu nguyên liệu cho tới khâu thành phẩm, áp dụng công nghệ tiên tiến của các hãng có uy tín về công nghiệp chế biến sữa trên thế giới như: Tetra Pak, Delaval của Thụy Điển, APV của Đan mạch, GEA, Benco Pak của Italia... Vì vậy, sản phẩm sản xuất ra có chất lượng ổn định và đạt chỉ tiêu về an toàn thực phẩm. Về quản lý chất lượng: tất cả DN có quy mô trên 100 triệu lít/năm của ngành sữa đang triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 22.000 và HACCP.

Dầu thực vật - Phong phú, đa dạng

        Hiện nay, ngành công nghiệp chế biến dầu thực vật của Việt Nam có 37 DN sản xuất dầu thô và dầu tinh luyện. Năng lực sản xuất dầu thô 1.200 ngàn tấn nguyên liệu hạt có dầu/năm, năng lực sản xuất dầu tinh luyện 1.129 ngàn tấn dầu tinh luyện/năm. Năng lực tách phân đoạn toàn ngành 610 nghìn tấn nguyên liệu/năm.

        Hiện nay ở Việt Nam chưa phát triển được cây nguyên liệu có dầu, nên hàng năm các DN chế biến dầu phải nhập khẩu trên 90% nguyên liệu dầu thô các loại để tinh luyện thành dầu ăn tiêu thụ trong nước và phục vụ xuất khẩu, trong đó nguyên liệu dầu cọ thô, phải nhập khẩu hoàn toàn từ các nước Malaysia và Indonesia (chiếm gần 80%), còn lại là dầu nành, dầu oliu, dầu hạt cải và dầu hướng dương.

        Ngành công nghiệp chế biến dầu của Việt Nam chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng dân sinh và cho ngành chế biến thực phẩm như bánh kẹo, sữa, mì ăn liền... Năm 2012, sản lượng sản xuất dầu tinh luyện đạt 709 ngàn tấn, xuất khẩu 40 ngàn tấn. Từ năm 2000 đến nay, sản phẩm dầu của ngành tăng cả về số lượng và chất lượng. Sản lượng dầu tinh luyện tăng 2,1 lần, dầu thô tăng 1,6 lần so với năm 2000.

        Các sản phẩm tiêu dùng của ngành phong phú về đa dạng chủng loại và mẫu mã, như: Nhóm dầu chiên xào (dầu Cooking oil, dầu Olein tinh luyện, dầu dừa), nhóm dầu Salad Oil (các loại dầu nành, dầu mè, dầu phộng, là các loại dầu dùng để chiên xào, làm bánh, ăn chay, trộn salad), nhóm dầu đặc (Magarine, Shortening), nhóm dầu dinh dưỡng (có bổ sung các chất dinh dưỡng, vitamin A, D, DHA).

        Về thiết bị công nghệ, các DN trong ngành dầu đã đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại của các hãng WURTER& SANGER (Mỹ), THYSSEN KRUPP (Đức), DESMET (Bỉ)... Tất cả các DN tinh luyện dầu trong ngành đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO. Hệ thống chất lượng ISO& HACCP là những tiêu chuẩn quốc tế chuẩn mực được áp dụng phổ biến hiện nay trên toàn thế giới cho các DN sản xuất thực phẩm.

Bánh, kẹo - Chiếm lĩnh thị trường nội địa

        Hiện nay, lĩnh vực sản xuất bánh kẹo có khoảng 30 DN trong nước và hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ và một số công ty nhập khẩu bánh kẹo nước ngoài, là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định tại Việt Nam. Sản lượng bánh kẹo năm 2012 đạt trên 100 nghìn tấn, tổng giá trị thị trường năm 2012 khoảng trên 8 nghìn tỷ đồng. Theo dự báo tốc độ tăng trưởng của ngành bánh kẹo trong giai đoạn 2011-2014 khảng 8-10%/năm.

        Cách đây 10 năm, phần lớn bánh kẹo lưu thông trên thị trường nước ta đều là hàng của Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia nhập về tràn lan. Đến nay, trên thị trường xuất hiện rất ít hàng bánh kẹo của Trung Quốc. Ưu thế của các DN trong nước là bảo đảm an toàn thực phẩm, có những bước đột phá về chất lượng, mẫu mã bao bì và đưa ra nhiều sản phẩm mới phục vụ người tiêu dùng. Các DN trong nước đã không ngừng nâng cao vị thế cạnh tranh bằng việc đầu tư dây chuyền công nghệ sản đồng bộ, hiện đại và được nhập khẩu từ các quốc gia nổi tiếng về sản xuất bánh kẹo như: Công nghệ cho bánh phủ socola của Hàn Quốc, công nghệ bánh quy (Đan mạch, Anh, Nhật)... Bên cạnh đó, bánh kẹo nước ngoài hầu hết giá đều rất cao so với hàng Việt, trong khi chất lượng chỉ tương đương.

Những hạn chế

        Ngành công nghiệp thực phẩm còn nhiều bất cập như: Nguyên liệu trong nước chưa đáp ứng được sản xuất (ví dụ ngành sữa đáp ứng được khoảng 25%); 90% nguyên liệu dầu ăn phải nhập khẩu; các nguyên liệu chính như malt, hoa Houblon, chế phẩm Emzym... vẫn chưa sản xuất được trong nước, nên vẫn phải nhập khẩu. Do đó, chất lượng sản phẩm chưa được kiểm soát và quản lý chặt chẽ. Một số DN nhỏ do địa phương quản lý, thiếu vốn làm ăn chộp giật đã đầu tư thiết bị lạc hậu, không đồng bộ, sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn như công bố trên bao bì đã làm ảnh hưởng đến sản phẩm có thương hiệu uy tín.

        Ngành công nghiệp thực phẩm còn thiếu cán bộ chuyên sâu, có trình độ cao về công nghệ, kiểm nghiệm, cơ khí- tự động... do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc vận hành và chi phí cho sửa chữa, bão dưỡng thiết bị cũng như trong xử lý các tình huống công nghệ phát sinh...

 DN chế biến thực phẩm - Cạnh tranh khốc liệt

Trích tham luận của ông Nguyễn Phương Nam- Phó Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương)

        Ngành chế biến thực phẩm có số lượng DN tham gia khá đông so với các ngành kinh tế khác, có hàng nghìn DN lớn nhỏ tham gia vào lĩnh vực này, bao gồm các DN thuộc mọi thành phần kinh tế từ DN nhà nước, DN tư nhân đến DN có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, đã có hàng trăm nhà máy chế biến thực phẩm quy mô lớn, đạt tiêu chuẩn quốc tế đã đi vào hoạt động trên cả nước. Đồng thời đây cũng là khu vực thu hút rất nhiều vốn đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây.

        Thực tế cho thấy, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm có mức độ tập trung thấp, thị trường có tính cạnh tranh cao (các DN tham gia trên thị trường có đầy đủ thông tin về thị trường và các DN có thể dễ dàng tham gia hoặc rút khỏi thị trường). Do vậy, môi trường cạnh tranh trong ngành chế biến thực phẩm là tương đối tốt, số lượng chủ thể trên thị trường lớn, hệ quả là cạnh tranh giữa các DN rất khốc liệt.

        Vì có mức độ tập trung thấp cho nên ngành chế biến thực phẩm gần như không có DN và nhóm DN có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền. Tuy nhiên, do mức độ cạnh tranh cao cho nên thị trường cũng tiềm ẩn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh để loại bỏ đối thủ khỏi một số thị trường nhất định.

        Theo dõi của Cục Quản lý cạnh tranh cho thấy chưa phát hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh. Các hành vi phản cạnh tranh trong ngành chủ yếu tập trung ở các hành vi cạnh tranh không lành mạnh như:

    - Gây rối hoạt động của DN khác.

    - Gièm pha DN khác.

    - Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

    - Chỉ dẫn gây nhầm lẫn...

        Có một vụ việc điển hình liên quan đến các DN sản xuất thạch rau câu đã được Cục Quản lý cạnh tranh điều tra, xử lý: Một công ty sản xuất sản phẩm thạch rau câu đã dựa trên thiết kế bao bì, tên gọi của một sản phẩm có tiếng trước đó là thạch rau câu “Konnyaky Jelly Powder” để xây dựng kiểu dáng, tên gọi cho sản phẩm thạch rau câu “Konnyaku ABCxy powder” ra đời sau của mình. Với cách thức cạnh tranh này, người tiêu dùng bị nhầm lẫn và mua sản phẩm “Konnyaku ABCxy powder” trong khi sản phẩm mà họ thực sự mong muốn là “Konnyaku Jelly powder”.

        Nhìn một cách tổng quát, môi trường cạnh tranh trong ngành chế biến thực phẩm khá thông thoáng. Hành lang pháp lý cho hoạt động cạnh tranh trong ngành đã được ban hành tương đối đầy đủ, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho mọi loại hình DN tham gia thị trường. Hoạt động cạnh tranh diễn ra gay gắt với mức độ tập trung ở mức thấp. Các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh đã diễn ra trên thị trường tuy nhiên mới chỉ tập trung ở các dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

        Để bảo đảm môi trường cạnh tranh trong ngành chế biến thực phẩm, Cục Quản lý cạnh tranh khuyến nghị các DN tăng cường tuân thủ pháp luật, đặc biệt là pháp luật cạnh tranh (tố giác DN vi phạm pháp luật cạnh tranh...) để tự bảo vệ mình cũng như bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh cho cộng đồng DN.

 Sản phẩm sữa - Bảo đảm an toàn thực phẩm

Trích tham luận của ông Trịnh Quý Phổ- Tổng Thư ký Hiệp hội Sữa Việt Nam

        Hiệp hội Sữa Việt Nam ý thức rằng bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) các sản phẩm sữa là sự sống còn của ngành, vì các sản phẩm sữa gắn liền với sức khỏe của người tiêu dùng bởi nó rất nhạy cảm. Mấy năm gần đây đã xảy ra những vụ việc như Melamilk, sữa nghèo đạm, đỉa trong sữa... Tuy các thành viên trong Hiệp hội không phạm phải nhưng cũng bị ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình sản xuất- kinh doanh. Chính vì vậy, Hiệp hội Sữa luôn coi trọng đến công tác ATTP&VSMT cho từng loại sản phẩm.

        Nói đến quản lý chất lượng các sản phẩm sữa theo hệ thống quản lý chất lượng ATTP tiên tiến phải quan tâm đến công nghệ chế biến và hệ thống quản lý chất lượng và ATTP. Hiệp hội Sữa luôn coi trọng yếu tố khoa học và công nghệ sản xuất. Tùy thuộc vào nguồn vốn, nhu cầu của thị trường và cơ cấu sản phẩm, Hiệp hội khuyến cáo các hội viên luôn chú trọng đầu tư chuyển đổi công nghệ kịp thời nhằm duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm. Có thể khẳng định hiện nay lĩnh vực chế biến sữa của các hội viên tham gia chế biến sữa của Hiệp hội Sữa Việt Nam đã đạt tới trình độ tiên tiến, hiện đại của thế giới về cả công nghệ và trang thiết bị.

        Để kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế, các hội viên của Hiệp hội đang áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001&22000, Tiêu chuẩn HACCP; Tiêu chuẩn ISO 17025:2005 đối với các phòng kiểm nghiệm; Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001:2004.

        Trong quá trình sản xuất, Hiệp hội quán triệt đến từng hội viên phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về điều kiện vệ sinh nhà xưởng, môi trường, máy móc thiết bị và vệ sinh cá nhân theo tiêu chuẩn của ngành chế biến thực phẩm trên thế giới thông qua việc thực hiện tốt các chương trình GMP (Good Manufacturing Practice) và SSOP(Sanitary Standard Operating Procedures), tất cả công đoạn sản xuất đều được giám sát chặt chẽ, các điểm kiểm soát quan trọng được thực hiện theo kế hoạch HACCP, hồ sơ sản xuất đươc lưu trữ theo lô sản xuất đến hết thời hạn sử dụng của sản phẩm.

        Tất cả các lô sản phẩm đều được kiểm tra nghiêm ngặt trước khi nhập kho thành phẩm, bảo quản thành phẩm trong kho phải tuân thủ theo quy định bắt buộc phù hợp với từng chủng loại sản phẩm, mẫu lưu sản phẩm được theo dõi trong suốt thời hạn sử dụng của sản phẩm, các thành phẩm được kiểm tra định kỳ bởi cơ quan thứ ba theo quy định của nhà nước để bảo đảm sự phù hợp với chất lượng và tiêu chuẩn ATTP đã được công bố.

        Đối với sản phẩm đang lưu thông trên thị trường, tăng cường kiểm soát sản phẩm đang lưu thông trên thị trường thông qua hồ sơ truy vết lô sản xuất tại từng công ty và dữ liệu phân phối bán hàng trên hệ thống ERP của công ty, thực hiện thực tập định kỳ hệ thống truy vết thu hồi trên cơ sở hoạt động của các dữ liệu trên, tiếp nhận thông tin phản ánh của khách hàng về chất lượng sản phẩm và xem xét phản hồi.

        Với quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu nguyên liệu đầu vào, máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại, đội ngũ nhân viên lành nghề, trình độ cao cùng với việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng và ATTP tiên tiến trên thế giới, chất lượng sản phẩm của các hội viên Hiệp hội Sữa Việt Nam luôn bảo đảm tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế.

                                                                                      Nguồn:baocongthuong.com.vn

 
Đường dây nóng

Chuyendoiso

ISO

ND552019ndcp

hiepdinhCPTPP

rcep

EVFTA

thủ tục HC
36.0 °C
Độ ẩm: 49 %
Sức gió: 16 km/h