Làm tốt vai trò của Bộ đa ngành

02/01/2013 12:20        

Nhân dịp năm mới, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương về những nỗ lực của ngành trong sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. 


Bộ trưởng Bộ Công Thương- Vũ Huy Hoàng

 I. NỖ LỰC VƯỢT KHÓ

        * Thưa Bộ trưởng, trong bối cảnh tình hình khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và trong nước, nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ trong năm vừa qua được xác định là, ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý; đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội... Với vai trò là một trong những ngành chủ lực của nền kinh tế, ngành Công Thương đã triển khai các nhóm giải pháp và có kết quả cụ thể như thế nào để góp phần quan trọng vào hoàn thành nhiệm vụ nêu trên?

        Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Năm 2012, kinh tế thế giới suy giảm đã ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta, trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ- CP ngày 03 tháng 01 năm 2012 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 và Nghị quyết số 13/NQ- CP ngày 10 tháng 5 năm 2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh hỗ trợ thị trường. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương đã ban hành Chương trình hành động của Bộ Công Thương kèm theo Quyết định số 443/QĐ- BCT ngày 18 tháng 01 năm 2011, Chỉ thị số 04/CT- BCT ngày 22 tháng 02 năm 2012 nhằm tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ- CP và Chỉ thị số 09/CT- BCT ngày 25 tháng 5 năm 2012, Chỉ thị số 13/CT- BCT ngày 17 tháng 8 năm 2012 nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 13/NQ- CP. Theo đó, Bộ đã cụ thể hóa các nhiệm vụ yêu cầu các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty, Công ty, các Sở Công Thương khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động của đơn vị mình và phân công lãnh đạo chịu trách nhiệm chủ trì thực hiện các đề án, các nhiệm vụ được giao tại các chương trình hành động và Chỉ thị của Bộ, thường xuyên trao đổi liên hệ, báo cáo Bộ quá trình thực hiện. Cho đến nay việc triển khai thực hiện các nhóm giải pháp đã đem lại một số kết quả cụ thể như sau:

        - Sản xuất công nghiệp năm 2012, tuy còn gặp nhiều khó khăn và chịu những tác động của kinh tế thế giới nhưng vẫn duy trì được mức tăng trưởng. Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2012 tăng 4,8% so với năm 2011, đây là mức tăng trưởng tuy thấp so với nhiều năm trở lại đây (năm 2011 tăng 7,3% so với năm 2010 và năm 2010 tăng 9,4% so với năm 2009) nhưng vẫn thể hiện được cố gắng của toàn ngành, nhất là của đội ngũ các doanh nhân Việt Nam.

        - Tình hình hàng tồn kho, hàng ứ đọng trong doanh nghiệp nhìn chung đã có chuyển biến tích cực, chỉ số tồn kho trong lĩnh vực chế biến, chế tạo có xu hướng giảm dần, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, so với cùng kỳ năm 2011, tại thời điểm ngày 01 tháng 3 năm 2012, chỉ số hàng tồn kho trong lĩnh vực chế biến, chế tạo tăng 34,9%; nhưng đến ngày 01 tháng 12 năm 2012 thì chỉ còn tăng 20,1% (lưu ý rằng chỉ số hàng tồn kho cùng thời điểm này năm 2011 tăng 23% so với năm 2010).

        - Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa đều đạt và vượt các chỉ tiêu đặt ra; trong đó, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu vượt 5,3% so với chỉ tiêu Quốc hội và Chính phủ đề ra. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2012 ước đạt 114,6 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm 2011. Mặc dù trong năm, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn về sản xuất, thị trường và các rào cản thương mại, song nhờ thích ứng tốt, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã đạt kim ngạch xuất khẩu cao. Bên cạnh các mặt hàng truyền thống có khối lượng xuất khẩu tăng khá như nhân điều, cà phê, cao su, máy vi tính, sản phẩm điện tử... kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng mới như điện thoại di động và linh kiện, máy ảnh, máy quay phim, sản phẩm từ sắn... đã tăng mạnh, điều này đã khẳng định chủ trương phát triển mặt hàng xuất khẩu mới từng bước phát huy hiệu quả trong năm qua, đồng thời phản ánh năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của nền kinh tế ngày càng được mở rộng.

        - Nhập khẩu năm 2012 đã phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2012 ước đạt 114,3 tỷ USD, tăng 7,1% so với năm 2011. Lượng nhập khẩu nhiều mặt hàng nguyên nhiên vật liệu như dầu thô, xăng dầu, phân bón, vải, sợi, linh kiện điện tử... tăng cho thấy tình hình sản xuất, xuất khẩu vẫn duy trì được mức tăng trưởng. Nhập khẩu nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu - hàng tiêu dùng tăng thấp hơn so với mức tăng của cùng kỳ, điều này cho thấy, ngoài những khó khăn chung ảnh hưởng đến tiêu dùng, việc thực hiện các biện pháp kiểm soát nhập khẩu, đã đem lại hiệu quả tích cực.

        - Do tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn nhiều so với tốc độ tăng nhập khẩu nên cán cân thương mại của Việt Nam năm 2012 đã nghiêng về xuất siêu, ước xuất siêu cả năm là 284 triệu USD, bằng 0,2% tổng kim ngạch xuất khẩu.

        - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, dù không đạt được mức tăng trưởng cao như những năm trước nhưng cũng đạt được kết quả đáng khích lệ, tăng khoảng 16% so với năm 2011.

        * Năm 2012, Bộ trưởng đã thực hiện nhiều chuyến đi thực tế địa phương. Tại các buổi làm việc này, nhiều kiến nghị đã được đưa ra xung quanh việc tháo gỡ khó khăn trong hoạt động công nghiệp, thương mại trên địa bàn. Vậy, xin Bộ trưởng cho biết, đến nay, những kiến nghị đó đã được Bộ Công Thương tháo gỡ đến đâu?

        Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng:Trước tình hình khó khăn của nền kinh tế nói chung và của ngành Công Thương nói riêng, Bộ Công Thương đã tổ chức Hội nghị Giám đốc các Sở Công Thương tại 6 vùng kinh tế và có nhiều buổi làm việc với lãnh đạo các địa phương, doanh nghiệp nhằm tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trên địa bàn. Sau Hội nghị và qua các buổi làm việc, Bộ đã ghi nhận và tổng hợp lại các nhóm vấn đề mà các địa phương, doanh nghiệp đề xuất xung quanh việc tháo gỡ khó khăn trong hoạt động công nghiệp, thương mại trên địa bàn.

        Liên quan đến nhóm vấn đề thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành khác, Bộ Công Thương đã tổng hơp gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành để xử lý. Các địa phương đã kiến nghị Bộ Công Thương giải quyết nhiều vấn đề, nhưng có thể tổng hợp thành 3 nhóm vấn đề chính: Một là, đề nghị giãn lộ trình tăng giá điện, than, xăng dầu để hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp đạt hiệu quả. Hai là, tăng cường kiểm tra cơ sở, phân định trách nhiệm giữa Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, xây dựng chuỗi liên kết tạm trữ lúa gạo. Ba là, đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xúc tiến thương mại, nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Tổ chức hiệu quả, đồng bộ công tác thông tin, dự báo, bám sát tình hình thị trường nước ngoài, đặc biệt là tại các thị trường trọng điểm, thị trường tiềm năng để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm.

        Trên cơ sở kiến nghị của các địa phương, Bộ Công Thương đã và đang triển khai các giải pháp tháo gỡ. Một số kết quả cụ thể như sau:

        - Về giãn lộ trình tăng giá điện, than, xăng dầu: Hiện nay, điều hành giá điện, giá xăng dầu, giá than đều được thực hiện theo quy định, với nguyên tắc theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Theo chức năng quản lý nhà nước, Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì về giá nói chung, Bộ Công Thương thời gian qua đã phối hợp cùng Bộ Tài chính trong công tác điều hành giá. Việc điều hành giá điện, than, xăng dầu thời gian qua cũng có lúc chưa kịp thời với diễn biến tình hình trong nước và thế giới, nhưng cơ bản là giữ ổn định nhằm hài hòa lợi ích của người dân, doanh nghiệp và nhà nước, thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

        -  Về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, xây dựng chuỗi liên kết tạm trữ lúa gạo:Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại Văn bản số 6436/VPCP- KTTH ngày 22 tháng 8 năm 2012 về việc thực hiện chủ trương mua tạm trữ thóc gạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang chủ trì xây dựng Cơ chế mua tạm trữ lúa gạo nhằm bảo đảm hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân trồng lúa. Bộ Công Thương đã và đang tích cực tham gia ban soạn thảo, hiện dự thảo Cơ chế đang xin ý kiến của các bộ, ngành để tổng hợp trình Chính phủ.

        - Về hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, tiêu thụ sản phẩm:Đến nay, Bộ Công Thương đã phê duyệt 3 đợt đối với Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia cho 114 đề án với tổng kinh phí 93,08 tỷ đồng, đạt tỷ lệ giải ngân 99,1% kinh phí dành cho Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia năm 2012.

        Đến cuối tháng 11/2012, có trên 3.500 doanh nghiệp trực tiếp tham gia và hưởng lợi từ Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia với giá trị hợp đồng đã ký kết và doanh số bán hàng đạt gần 1 tỷ USD và 1.200 tỷ đồng Việt Nam.

        Các đề án thuộc Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia 2012 bao gồm: Các hoạt động xúc tiến thương mại định hướng xuất khẩu, xúc tiến thương mại thị trường trong nước và xúc tiến thương mại miền núi, biên giới, ưu tiên tập trung cho các chương trình lớn, có trọng tâm, trọng điểm và gắn trực tiếp với hiệu quả theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Về xúc tiến thương mại định hướng xuất khẩu, Chương trình tiếp tục tập trung khai thác các hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả như tổ chức, tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, tổ chức đoàn doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng, tổ chức hội nghị quốc tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam, đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm xúc tiến thương mại.

        Triển khai Chương trình Dự trữ hàng hóa bình ổn giá cho các địa phương, góp phần xây dựng chuỗi cung ứng hàng hóa ổn định từ sản xuất- chế biến- dự trữ- phân phối- tiêu thụ, Bộ Công Thương đã tổ chức các đoàn khảo sát tại một số địa phương về chương trình dự trữ hàng hóa bình ổn giá; phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức hội nghị trực tuyến sơ kết, đánh giá việc thực hiện Chương trình Dự trữ hàng hóa bình ổn giá; phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng cơ chế để thống nhất chỉ đạo và triển khai Chương trình Dự trữ hàng hóa bình ổn giá cho các địa phương, góp phần xây dựng chuỗi cung ứng hàng hóa ổn định từ sản xuất - chế biến - dự trữ - phân phối - tiêu thụ.

II. THẲNG THẮN VÀ TRÁCH NHIỆM

        * Tại phiên chất vấn kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII (ngày 12/11/2012), trên cương vị và trách nhiệm của người đứng đầu Bộ Công Thương, Bộ trưởng đã thẳng thắn thừa nhận có vấn đề về những yếu kém trong khâu quy hoạch, cập nhật dự báo tình hình dẫn tới dư thừa sản phẩm, điểm yếu này trong công tác quản lý nhà nước sắp tới sẽ được khắc phục thế nào, thưa Bộ trưởng?

        Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng:Thời gian qua, đúng là có một số ngành, do có vấn đề về yếu kém trong khâu quy hoạch, cập nhật dự báo tình hình dẫn tới dư thừa sản phẩm. Để chấn chỉnh công tác này, Bộ Công Thương coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần phải thực hiện trong thời gian tới.

        Thứ nhất, tuy Bộ Công Thương đã có các văn bản hướng dẫn về công tác lập quy hoạch đối với ngành công nghiệp và thương mại, nhưng cần phải tập trung đôn đốc, kiểm tra, giám sát và cập nhật, bổ sung các quy hoạch đã được phê duyệt; đồng thời tiếp tục bổ sung các cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch, tùy theo tính chất, quy mô, lĩnh vực, phạm vi, cấp phê duyệt... trong đó có phân nhóm các quy hoạch mang tính pháp lý và các quy hoạch mang tính cảnh báo; xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước và với các địa phương trong giám sát thực hiện quy hoạch; điều hành thực hiện quy hoạch phải được thực hiện thông qua sự phối hợp một cách thống nhất và tương hợp giữa các bộ, các địa phương, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ.

        Thứ hai, từng bước nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, trong đó tăng cường củng cố hệ thống thông tin, dự báo phục vụ công tác quy hoạch, thực hiện tốt cơ chế phối hợp trong thực hiện công tác phân tích dự báo; tăng cường sự liên kết ngành, liên kết vùng trong các quy hoạch; đồng thời, nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác quy hoạch từ trung ương đến địa phương.

        Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, phối hợp với ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố với các bộ quản lý ngành trong việc cấp phép cho các dự án.

    Một vấn đề được cử tri cả nước quan tâm đó là xây dựng và quản lý các dự án thủy điện trên cả nước hiện nay cũng như an toàn đập thủy điện. Xin Bộ trưởng cho biết quan điểm về vấn đề này?

        Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Các công trình thủy điện luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống điện quốc gia, là những nguồn cung cấp điện quan trọng, mang lại những lợi ích to lớn trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Ngoài ra, công trình thủy điện còn là nguồn năng lượng thân thiện với môi trường, điều tiết dòng chảy trong mùa lũ, chống hạn trong mùa khô, góp phần điều hòa khí hậu vùng và tiểu vùng, đảm bảo an ninh năng lượng… Bên cạnh những ích lợi nói trên thì công trình thủy điện cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất an toàn vùng hạ du, đe dọa tính mạng và tài sản của người dân nếu như đập của hồ chứa thủy điện không bảo đảm an toàn. Chính vì vậy, vấn đề bảo đảm an toàn công trình thủy điện trong đó có đập cần phải đặc biệt coi trọng, nhất là trong tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường như hiện nay.

        Đánh giá tầm quan trọng của đập, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2007/NĐ- CP ngày 07 tháng 5 năm 2007 về quản lý an toàn đập, trong đó công tác quản lý an toàn đập đòi hỏi phải được thực hiện ngay từ khi khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng đập. Công tác theo dõi an toàn đập được duy trì thường xuyên, liên tục trong quá trình vận hành sau này, bao gồm: Công tác điều tiết nước hồ chứa, quan trắc đập, kiểm tra, duy tu bảo dưỡng đập, kiểm định đập, chuẩn bị các phương án bảo đảm an toàn đập và phòng chống lũ lụt vùng hạ du đập do xả lũ hồ chứa hoặc đập bị sự cố…

        Để triển khai các quy định về bảo đảm an toàn đập, Bộ Công Thương đã ban hành các văn bản pháp quy như Thông tư số 34/2010/TT- BCT ngày 07 tháng 10 năm 2010 về quản lý an toàn đập của công trình thủy điện, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong đó có yêu cầu kỹ thuật đối với công trình thủy điện, các quy trình vận hành điều tiết hồ chứa. Bên cạnh đó, Bộ cũng có những chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể, chủ động thực hiện các quy định pháp luật về an toàn đập thủy điện và hướng dẫn các Sở Công Thương thực hiện chức năng kiểm tra công tác quản lý an toàn đập thủy điện trong phạm vi địa bàn của mình. Hàng năm, theo phân cấp, Bộ đều tổ chức thẩm định và phê duyệt các phương án phòng chống lụt bão bảo đảm an toàn đập của các thủy điện có công suất trên 30 MW; tổ chức các đoàn kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý an toàn đập thủy điện trên phạm vi cả nước, kịp thời chỉ đạo các địa phương, chủ động tăng cường công tác bảo đảm an toàn đập, khắc phục những khuyết thiếu trong quản lý an toàn đập.

        Hiện tại, Bộ Công Thương đang và sẽ tiếp tục rà soát, đánh giá lại toàn diện các vấn đề liên quan đến xây dựng và quản lý các công trình thủy điện, trong đó có rà soát, bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn cho các công trình thủy điện như: Nghị định số 72/2007/NĐ- CP về quản lý an toàn đập; quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý an toàn đập... nhằm tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật của tổ chức/cá nhân và hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà nước, hướng tới phân cấp rõ hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ cũng như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với vấn đề an toàn đập thủy điện.

III. GẮN KẾT HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VỚI ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

    * Năm 2012- đánh dấu 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả tích cực. Những nét nổi bật nhất là gì?

        Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Sau 11 năm đàm phán, ngày 13 tháng 1 năm 2007, Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). 5 năm tuy chưa dài nhưng đã phần nào cho thấy những tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam.

        Thực tế cho thấy, gia nhập WTO đã có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 5 năm gần đây, đặc biệt đối với tăng trưởng xuất khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển các ngành dịch vụ và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, môi trường kinh doanh theo hướng minh bạch hơn, bình đẳng hơn.

        Về tăng trưởng xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 48,6 tỷ USD năm 2007 lên 114,6 tỷ USD năm 2012, với tốc độ tăng trưởng bình quân của cả giai đoạn vào khoảng 21,6%/năm. Kim ngạch xuất khẩu luôn tăng trưởng cao hơn so với tăng trưởng GDP, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu/GDP vượt qua mức 80% vào năm 2011. Như vậy, ngay cả trong bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động, Việt Nam đã tận dụng được các cơ hội do gia nhập WTO mang lại để gia tăng xuất khẩu.

        Bên cạnh đó, cơ cấu xuất khẩu cũng có sự thay đổi tích cực, chuyển dịch dần từ sản phẩm thô (dầu mỏ, than đá, cao su, gạo) sang sản phẩm công nghiệp chế biến, kể cả sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.

        Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài:Vốn thực hiện của khu vực đầu tư nước ngoài trong 2 năm đầu khi Việt Nam là thành viên WTO đã có sự tăng trưởng mạnh, với mức tăng trưởng 75,3% vào năm 2007 và 42,6% vào năm 2008. Năm 2009, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, vốn đầu tư thực hiện của khu vực đầu tư nước ngoài chỉ giảm 15% so với năm trước và năm 2010 con số này đã tăng 10% so với năm 2009. Năm 2011 và 2012 là hai năm đầy khó khăn và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, do trên bình diện quốc tế, nhiều yếu tố gây bất ổn kinh tế vĩ mô và hoạt động tài chính toàn cầu, như: Khủng hoảng nợ công châu Âu ngày càng lan rộng, mất cân bằng trong khu vực; tài khóa tại các nước đang phát triển sụt giảm dẫn đến dòng FDI thế giới, đặc biệt từ các nước phát triển cũng sụt giảm theo. Tuy vậy, trong năm 2011, vốn thực hiện của khu vực đầu tư nước ngoài vẫn ngang bằng so với năm 2010. Điều này cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có sự đánh giá tích cực về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

        Về phát triển các ngành dịch vụ:Sau 5 năm gia nhập WTO, việc thực hiện các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ là một trong các nguyên nhân dẫn đến đầu tư nước ngoài vào trong khu vực này tăng mạnh. Trong mấy năm đầu gia nhập WTO, lĩnh vực có đầu tư tăng trưởng mạnh nhất là các ngành kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn; tài chính và tín dụng; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc.

        Về việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, môi trường kinh doanh: Sau 5 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã rất nỗ lực cải thiện khuôn pháp lý để nội luật hóa cam kết gia nhập WTO. Khung pháp lý để phát triển các loại thị trường cũng tiếp tục được hoàn thiện. Đối với thị trường hàng hóa, một số rào cản từng bước được gỡ bỏ. Với các loại thị trường dịch vụ khác như thị trường tài chính, cũng liên tục được điều chỉnh, bổ sung, đưa ra các quy định rõ ràng và bình đẳng về thành lập và hoạt động của ngân hàng, tổ chức quản lý ngân hàng, các nguyên tắc chung về quản trị, kiểm soát, điều hành ngân hàng. Tất cả những việc này đã dẫn đến việc hình thành môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, minh bạch đáp ứng các tiêu chí về một nền kinh tế thị trường.

* Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng lên hơn 3 lần sau 5 năm gia nhập WTO- điều đó chứng tỏ chúng ta đã nắm bắt được cơ hội thuận lợi. Bộ trưởng nhận định như thế nào về cơ hội triển vọng mới, đặt trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới vẫn chưa hứa hẹn sáng hơn trong thời gian tới?

        Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu trong những năm qua cho thấy Việt Nam đã tận dụng khá tốt những cơ hội do tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và việc gia nhập WTO mang lại. Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trưởng, hàng năm luôn đóng góp khoảng 70% GDP của cả nước, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 48,6 tỷ USD năm 2007 lên 114,6 tỷ USD năm 2012, với tốc độ tăng trưởng bình quân của cả giai đoạn vào khoảng 21,6%/năm. Kim ngạch xuất khẩu tăng dần hàng năm đã đưa nước ta vào nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cao su. Thị trường xuất khẩu được mở rộng, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã vươn tới hầu hết các thị trường trên thế giới, nhiều sản phẩm đã có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ...

        Trong giai đoạn tới, hoạt động xuất khẩu vẫn có nhiều cơ hội thuận lợi để tăng trưởng. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản... đều đã và đang tung ra các gói kích cầu. Điều này sẽ giúp nhu cầu tiêu dùng tại các nước này tăng trưởng, tạo thuận lợi cho xuất khẩu của Việt Nam.

         Trong nước, kinh tế vĩ mô đã có những chuyển biến tích cực, lạm phát từng bước được kiểm soát; chính sách tiền tệ, ngoại hối tương đối ổn định. Việc triển khai tích cực của các Bộ, ngành và sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu đã từng bước phát huy tác dụng. Nhiều sản phẩm công nghiệp và nhóm hàng hóa mới sẽ có khả năng tăng trưởng nhanh trong giai đoạn tới do kết quả của quá trình thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong những năm gần đây tăng mạnh (điện tử, linh kiện điện tử, điện thoại di động, sản phẩm cơ khí, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị…).

        Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội thì hoạt động xuất nhập khẩu năm 2013 cũng phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường, những rủi ro đối với tiến trình phục hồi kinh tế thế giới còn tiềm ẩn khá lớn.

        Hầu hết các thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam đều phải đối mặt với những vấn đề nội tại trong năm 2013. Khả năng phục hồi kinh tế Hoa Kỳ còn mong manh, cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu vẫn tiếp diễn, các nền kinh tế lớn dự báo tiếp tục tăng trưởng chậm. Xuất khẩu Việt Nam sẽ phải đối mặt với chính sách bảo hộ từ các nước nhập khẩu ngày càng tăng và cạnh tranh gia tăng từ các nước xuất khẩu khác.

        Trong nước, tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, nợ xấu và khó khăn trong tiêu thụ hàng hoá là hai điểm nghẽn của nền kinh tế trong năm 2013. Điều này tác động đến tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

        Về mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng nông sản khó có khả năng tăng cao về lượng; một số mặt hàng công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2012 như máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại di động khó có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2013 do sản lượng đã đạt công suất thiết kế; một số ngành chủ lực như dệt may, da giày hiện đang đối mặt với nhiều yếu tố bất lợi như giá nhân công (tăng lương tối thiểu), chi phí đầu vào tăng cao do không chủ động được nguồn nguyên liệu.

        Trong bối cảnh đó, để hoàn thành thắng lợi chỉ tiêu xuất nhập khẩu Quốc hội đã thông qua, đòi hỏi sự nỗ lực của các bộ, ngành, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, nhanh chóng giải quyết những vấn đề còn tồn tại, khắc phục khó khăn, tận dụng tốt các thời cơ thuận lợi, khai thác tốt mọi nguồn lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu một cách bền vững.

IV. NHẬN ĐỊNH 2013

* Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, Việt Nam cần xem năm 2013 là năm bản lề cho những năm kế tiếp, nên cần tập trung duy trì ổn định vĩ mô, giữ tăng trưởng ổn định; tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp... Cụ thể với Bộ Công Thương là gì?

        Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng:Năm 2013 được dự báo sẽ còn nhiều khó khăn đối với Kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Công Thương nói riêng. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được Quốc hội thông qua, góp phần đạt tốc độ tăng trưởng GDP năm 2013, Bộ Công Thương tập trung vào các giải pháp sau:

    1. Tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

        - Phối hợp với các bộ, ngành trong việc điều hành chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối linh hoạt nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, cân đối hài hòa giữa yêu cầu xuất khẩu và nhu cầu nhập khẩu; tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất - kinh doanh, nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

        - Đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nhằm bảo hiểm rủi ro cho doanh nghiệp xuất khẩu; tạo ra sự thuận lợi trong việc đi vay từ các tổ chức tín dụng để tăng lượng hàng hóa xuất khẩu, tăng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.

        - Tăng cường phối hợp với các hiệp hội ngành hàng để kịp thời nắm bắt tình hình và phối hợp với các bộ, ngành liên quan giải quyết những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp ổn định sản xuất, kinh doanh - xuất khẩu.

        - Đẩy nhanh tiến độ thực thi đơn giản hóa thủ tục hành chính, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, không phù hợp; kịp thời phản hồi những khó khăn, vướng mắc của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính.

        - Xem xét, đề xuất việc tiếp tục phân cấp quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực, hoạt động cụ thể cho các Sở Công Thương để tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước chung của Bộ và của ngành Công Thương, hỗ trợ tốt hơn cho các địa phương và doanh nghiệp trong các hoạt động phát triển sản xuất và thương mại.

    2. Về khai thông thị trường.

        - Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, tiếp tục có giải pháp hỗ trợ phù hợp đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực, có lợi thế, có thị trường và có khả năng cạnh tranh... đồng thời có các giải pháp linh hoạt nhằm tranh thủ cơ hội tăng xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng và thị trường đang có triển vọng phục hồi. Tập trung phát triển thị trường trong nước, nhất là hỗ trợ các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, giảm hàng tồn kho, đổi mới hệ thống thu mua, tiêu thụ, đưa hàng hóa về nông thôn.

        - Đẩy mạnh hoạt động xây dựng và bảo vệ thương hiệu ngành hàng, sản phẩm xuất khẩu tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm và có nhiều tiềm năng theo các mục tiêu, nội dung của Chương trình Thương hiệu quốc gia.

        - Tham gia tích cực đảm bảo ổn định thị trường, thắt chặt công tác quản lý, kiểm tra thị trường, xử lý kịp thời, đặc biệt tại các điểm nóng, vùng giáp biên, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng nhằm tạo cơ hội tăng thị phần hàng hóa của Việt Nam trên thị trường nội địa.

        - Tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng phân tích và dự báo tình hình trong nước và quốc tế, đặc biệt là những biến động về tình hình chính trị, kinh tế, tài chính thế giới. Thực hiện tốt cơ chế phối hợp trong thực hiện công tác phân tích dự báo. Tăng cường hoạt động quảng bá và bảo hộ thương hiệu xuất khẩu của Việt Nam tại nước ngoài; cảnh báo sớm nguy cơ hàng xuất khẩu của Việt Nam bị kiện chống phá giá, chống trợ cấp, tự vệ để chủ động đối phó, ngăn chặn.

    3. Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả chỉ đạo của Chính phủ trong việc tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh.

        - Thực hiện tái cơ cấu sản xuất công nghiệp cả về ngành kinh tế kỹ thuật, vùng và giá trị mới, tăng hàm lượng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm; từng bước chuyển từ gia công, lắp ráp là chủ yếu sang chế tạo và chế tác. Bước đầu phát triển công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.

        - Thực hiện các giải pháp chuyển dịch cơ cấu và tái cấu trúc nền kinh tế, mà trước hết là điều chỉnh cơ cấu đầu tư, bao gồm cơ cấu đầu tư của từng ngành, từng lĩnh vực ngành Công Thương, của từng doanh nghiệp trong ngành, theo hướng giảm dần đầu tư từ ngân sách, đẩy mạnh xã hội hóa nguôn vốn.

        - Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư các công trình, dự án đã được soát xét, tập trung vốn để hoàn thành sớm đưa vào hoạt động, nhất là các công trình nguồn điện, lưới điện, các dự án tăng cường năng lực sản xuất hàng xuất khẩu, tạo nhiều công ăn, việc làm cho người lao động... ưu tiên tập trung đầu tư phát triển các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh.

        - Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước; đảm bảo khu vực doanh nghiệp nhà nước thực hiện tốt vai trò của mình trong nền kinh tế, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội tương xứng với nguồn lực hiện có.

* Thông điệp trước thềm năm mới 2013 của Bộ trưởng muốn gửi đến độc giả của Báo Công Thương?

        Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng:Năm 2012, nền kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Chính phủ đã có những giải pháp quyết liệt để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Với vai trò là cơ quan chủ trì điều hành các hoạt động sản xuất - kinh doanh, xuất nhập khẩu, cùng với cả nước, ngành Công Thương đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành đồng thời tham mưu với Chính phủ nhiều quyết sách quan trọng nhằm ổn định kinh tế vĩ mô.

        Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng sản xuất của ngành công nghiệp vẫn có tăng trưởng, nhiều công trình, dự án được được khởi công xây dựng và đưa vào khai thác nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu. Xuất khẩu tăng trưởng khá, cùng với tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng của nhập khẩu, cán cân thương mại của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể. Đây sẽ là tín hiệu khả quan để thực hiện tiếp những mục tiêu đề ra cho năm 2013.

        Thị trường trong nước năm 2012 dù không tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước nhưng đạt được kết quả đáng khích lệ, nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trong nước được triển khai cùng với việc thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã tạo nên nhận thức cơ bản của người tiêu dùng về hàng hóa của Việt Nam.

        Về hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta tiếp tục nỗ lực đàm phán, ký kết hiệp định Mậu dịch tự do (FTA), Hiệp định Thương mại song phương và đa phương với các nước, Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế, ngày càng có tiếng nói quan trọng với ý thức trách nhiệm cao trong các diễn đàn khu vực và thế giới, do đó đã góp phần mở rộng thị trường và tạo ra cơ hội lớn cho hàng xuất khẩu của Việt Nam.

        Công tác đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước đã được quan tâm và đạt được nhiều kết quả. Hoạt động khoa học kỹ thuật được chú trọng, góp phần đưa công nghệ và khoa học quản lý mới, hiện đại vào thực tiễn. Việc đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được đẩy mạnh.

        Cải cách hành chính mà trước hết là cải cách thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ đã được tích cực thực hiện, tạo sự thông thoáng cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất - kinh doanh và đầu tư phát triển...

        Thay mặt Ban cán sự đảng và Lãnh đạo Bộ CôngThương, tôi nhiệt liệt biểu dương toàn thể cán bộ, công nhân viên chức, người lao động toàn Ngành Công Thương đã có những đóng góp thiết thực, hiệu quả vào thành tựu chung của toàn ngành trong năm.

        Bước sang năm 2013, một năm được dự báo là vẫn còn nhiều khó khăn, để góp phần đạt được các mục tiêu kế hoạch mà Quốc hội đã thông qua, toàn ngành Công Thương cần phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu triển khai một cách đồng bộ các giải pháp của Chính phủ cũng như của ngành nhằm đổi mới và tăng cường công tác quản lý trong lĩnh vực Công Thương, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị trong ngành. Tôi tin tưởng rằng, phát huy các kết quả đã đạt được trong năm 2012 và với tinh thần nỗ lực phấn đấu của toàn ngành, chúng ta sẽ thực hiện thành công nhiệm vụ kế hoạch năm 2013.

        Nhân dịp cả nước bước sang năm 2013 và đón xuân mới Quý Tỵ, tôi xin chúc toàn thể cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trong và ngoài ngành Công Thương và gia đình một năm mới dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thắng lợi mới.

        Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

                                                                                                                Nguồn:baocongthuong.com.vn

 
Đường dây nóng

Chuyendoiso

ISO

ND552019ndcp

hiepdinhCPTPP

rcep

EVFTA

thủ tục HC
35.0 °C
Độ ẩm: 49 %
Sức gió: 12 km/h