Sức hội nhập thể hiện ở mức độ nắm bắt được cơ hội để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và cũng là thước đo cho thế và lực của một quốc gia. Nói cách khác, thúc đẩy công nghiệp, thương mại, chủ động hội nhập quốc tế (trong đó hội nhập kinh tế là trọng tâm) là một điều kiện “cần”, còn nắm bắt cơ hội là điều kiện “đủ” để các nước đang phát triển như Việt Nam có thể bắt nhịp, kết nối với dòng chảy đổi mới mô hình tăng trưởng toàn cầu. Đó là những nội dung chủ yếu trong bài phỏng vấn nhân dịp Xuân Bính Thân của Tạp chí Công Thương với Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng.
TCCT: Thưa Bộ trưởng, năm 2007 khi có quyết định hợp nhất Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại thành Bộ Công Thương cũng là năm Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO; trên cương vị “tư lệnh” ngành, Bộ trưởng nhìn nhận thế nào về sự chuyển biến của ngành Công Thương từ đó đến nay?
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Giữa năm 2007, Bộ Công Thương được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai Bộ Công nghiệp và Thương mại; khi được nhận nhiệm vụ Bộ trưởng, tâm trạng của tôi thật khó tả, sự phấn khởi, hồ hởi, hy vọng đan xen với nhiều lo lắng. Hồ hởi và hy vọng thì rõ rồi, nhiều tiền đề thuận lợi khi chúng ta kết thúc 5 năm 2001-2005 và năm 2006 với nhiều thành công (kinh tế tăng trưởng bình quân 7,5%/năm), biết bao cơ hội mở ra khi Việt Nam gia nhập WTO; còn lo lắng, vì lĩnh lực công tác quá rộng, kiến thức và hiểu biết về thương mại quá ít ỏi, vậy mình sẽ bắt đầu từ đâu? Lựa chọn khâu nào làm đột phá? Nắm bắt và chuyển cơ hội thành hiện thực như thế nào?...
Còn nếu muốn nói cụ thể hơn, nhất là về những hạn chế, những “điểm nghẽn” của Ngành thì có thể kể ra:
Về mặt “Công”, điện là nhân tố cực kỳ quan trọng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, là thức ăn không thể thiếu cho nền kinh tế, nếu muốn phát triển. Thế nhưng, hệ thống điện thường bị thiếu hụt công suất vào mùa khô và nhất là vào thời gian cao điểm. Tôi vẫn rất nhớ cái cảm giác khó tả mỗi khi (thường là vào chiều tối các ngày hè nóng bức) điện bị cắt và sau đó cả khu dân phố gần như cùng một lúc ồ lên “A, có điện rồi” khi điện sáng trở lại; hoặc là sự việc người dân ở một địa phương do quá bức xúc vì bị cắt điện, đã giữ công nhân ngành điện phơi nắng giữa trưa hè… Thật không thể quên được!
Trong khi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đặt ra yêu cầu giai đoạn 2006-2010 phải “Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng”, thì đến thời điểm này kết quả đạt được còn hạn chế, sản xuất trong nước không đáp ứng nhu cầu (xăng dầu, phân bón vô cơ, điện tử gia dụng….), công nghiệp hỗ trợ chưa rõ hình hài…
Về mặt “Thương”, công tác điều tiết cung cầu, bình ổn thị trường, quản lý thị trường… còn nhiều tồn tại và có nhiều phát sinh mới, làm cho dư luận và người dân phàn nàn, phê phán nhiều, nhất là trong các thời điểm thực hiện cơ chế giá thị trường thường hay gặp phản ứng không thuận của xã hội…
Xuất khẩu quy mô còn nhỏ bé, cơ cấu mặt hàng không hợp lý (xuất thô, gia công, hàng nông nghiệp là chính), với kim ngạch 48,38 tỷ USD năm 2007, tức bình quân xuất khẩu trên đầu người mới đạt 567 USD/năm, khá thấp so với các nước trong khu vực, đồng thời, nhập siêu rất cao, tương đương từ 15-20% trên kim ngạch xuất khẩu.
Hội nhập WTO chưa được bao lâu, cơ hội mới hé mở, thì từ năm 2008, kinh tế nước ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ khủng hoảng tài chính thế giới, trong đó có lĩnh vực công thương.
Bây giờ nhìn lại, sau gần 9 năm nỗ lực, cố gắng vượt bậc của toàn ngành dưới sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Chính phủ trong thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, sự ủng hộ của người dân và xã hội, bức tranh toàn cảnh của ngành Công Thương đã có sự thay đổi rõ rệt với các màu sáng là chủ đạo.
TCCT: Vậy các gam màu đó được thể hiện ra sao thưa Bộ trưởng?
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: - Thứ nhất, khung khổ pháp lý cho lĩnh vực công thương ngày càng được hoàn thiện, nhất là phục vụ cho hoạt động hội nhập.
- Thứ hai, sản xuất cơ bản đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân, kể cả hàng thiết yếu và thông dụng.
- Thứ ba, tái cơ cấu ngành gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả khá tích cực; năng lực sản xuất mới được tăng thêm rất đáng kể đã góp phần cho phát triển công nghiệp và thương mại, tạo thêm lợi thế thực hiện chủ trương tự lực, giảm phụ thuộc vào bên ngoài.
- Thứ tư, các công cụ thị trường ngày càng được hình thành và phát triển, nhất là giá thị trường đi với thực hiện các chính sách xã hội (giá xăng dầu, than, điện…).
- Thứ năm, quan hệ hội nhập, độ mở của nền kinh tế đất nước càng lớn, góp phần nâng cao vị thế của đất nước.
TCCT: Điều đó được thể hiện bằng những kết quả cụ thể trên những lĩnh vực nào của Ngành, thưa Bộ trưởng?
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Những kết quả cụ thể có thể tóm tắt như sau:
Về công nghiệp
Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp (theo giá so sánh năm 1994) năm 2007 đạt 567,4 nghìn tỷ đồng thì đến năm 2015 ước tính con số này đạt 1.300 nghìn tỷ đồng, gấp 2,3 lần so với năm 2007.
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất công nghiệp trong nội bộ ngành có sự thay đổi tích cực, đến năm 2015 ngành công nghiệp chế biến chế tạo chiếm trên 89,7%, là ngành chiếm tỷ trọng chính trong tổng giá trị của ngành công nghiệp. Các sản phẩm công nghiệp, về cơ bản, đã đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu. Nhiều sản phẩm công nghiệp mới đã được sản xuất và đưa vào cung ứng, đặc biệt là các sản phẩm xăng sinh học E5, các sản phẩm máy tính, linh kiện điện tử từ các doanh nghiệp FDI, các thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà máy thủy điện...
Ngành Công Thương đã đầu tư và đưa vào sử dụng nhiều dự án mới để nâng cao năng lực sản xuất, tạo thêm nhiều nguồn lực cho đất nước, nhất là trong các ngành Điện, thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí, khoáng sản, Hóa chất, Cơ khí chế tạo, Dệt may, Hàng tiêu dùng…
Về xuất nhập khẩu
Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng nhanh, nếu năm 2007 kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 48,38 tỷ USD thì đến năm 2015 ước đạt 162,4 tỷ USD (tăng gấp 3,3 lần). Cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam từ tình trạng luôn thâm hụt lớn trong giai đoạn 2007-2010 (năm 2007 tỷ lệ nhập siêu chiếm hơn 25% kim ngạch xuất khẩu), thì từ năm 2012 đến năm 2014 đã bước đầu có xuất siêu, năm 2015, nhập siêu chỉ chiếm 2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, như vậy cán cân thương mại Việt Nam cơ bản được cân bằng.
Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam có những chuyển dịch tích cực: đến năm 2015 nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tới 79%; nhóm hàng nông lâm thủy sản hiện chiếm khoảng 12,7% tỷ trọng mặt hàng xuất khẩu; nhóm hàng nhiên liệu - khoáng sản chỉ chiếm 3%.
Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng và đa dạng; hàng hóa xuất khẩu đã vươn tới hầu hết các thị trường trên thế giới, nhiều sản phẩm đã dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ...
Về thị trường trong nước
Thị trường hàng hoá trong nước dồi dào, cân đối cung cầu hàng hóa, trong đó gồm hàng thiết yếu và hàng thông dụng, được đảm bảo, không để xảy ra tình trạng sốt giá do thiếu, khan hiếm hàng hóa. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội năm 2015 tăng gấp hơn 4 lần so với năm 2007. Thị trường ở các thành phố, đô thị phát triển với các hình thức tổ chức văn minh hiện đại; thị trường nông thôn ngày càng được quan tâm từng bước phát triển và mở rộng. Nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trong nước được triển khai cùng với việc thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã từng bước góp phần tạo nên sự thay đổi trong nhận thức của người tiêu dùng về hàng Việt Nam.
Về hội nhập kinh tế quốc tế
Trong năm 2015 và những năm gần đây hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế đạt được nhiều kết quả nhờ sự tích cực và quyết liệt của ngành trong tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập về kinh tế là trọng tâm. Năm 2015 được ghi dấu là năm đạt được kết quả hội nhập kinh tế quốc tế rất tích cực khi Việt Nam ký kết hiệp định thương mại tự do với Liên minh kinh tế Á - Âu, Hàn Quốc; kết thúc đàm phán FTA với EU và TPP. Với kết quả này, ta đã có Hiệp định thương mại tự do với 55 nền kinh tế, trong đó có 17/20 đối tác của G20 và 7/7 đối tác của G7... Qua đó, thế và lực của quốc gia được khẳng định và ngày càng được nâng cao.
Chúng ta đã chủ động trong bảo vệ lợi ích của quốc gia và doanh nghiệp trong các diễn đàn của WTO, tích cực tham gia vận động nhiều nước công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường (đến nay có 57 nước công nhận); chủ trì và tham gia xử lý có hiệu quả nhiều quy định không hợp lý, vi phạm các cam kết quốc tế thông qua các rào cản kỹ thuật của một số đối tác thương mại, tạo điều kiện đẩy mạnh nhiều mặt hàng xuất khẩu sang các thị trường lớn.
Về thực hiện chức năng quản lý nhà nước
Ngành Công Thương đã đạt được nhiều kết quả trong thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là: tạo lập tương đối đồng bộ khung khổ pháp lý cho hoạt động công thương; chú trọng công tác chiến lược, quy hoạch; từng bước tái cơ cấu ngành Công Thương gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng (sản xuất thô, gia công giảm, chế biến, chế tạo tăng; xuất khẩu hàng công nghiệp, hàng có giá trị gia tăng cao chiếm tỷ lệ ngày càng nhiều, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh...); cải thiện cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng điện, hạ tầng thương mại; cơ chế thị trường ngày một hoàn thiện, đặc biệt là cơ chế về giá xăng dầu, giá than, giá điện...); chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia có hiệu quả vào thương mại toàn cầu.
TCCT: Hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu giúp vị thế nước ta được củng cố và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu sâu rộng hơn thưa Bộ trưởng? Xin Bộ trưởng cho biết rõ thêm ở điểm này?
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Khả năng hội nhập thể hiện thông qua mức độ tận dụng, nắm bắt cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nói cách khác, hội nhập kinh tế quốc tế được xem là điều kiện “cần", còn nắm bắt cơ hội là điều kiện “đủ” để một nước đang phát triển như Việt Nam bắt kịp xu thế đổi mới mô hình tăng trưởng của thế giới.
Về điều kiện “cần”, với kết quả như đã nêu trên, mức độ tích cực hội nhập của nước ta được đánh giá vào hàng đứng đầu các nước trong khu vực. Trong khi đó, thực hiện các Hiệp định FTA đã hoặc sẽ được ký kết được kỳ vọng sẽ đem lại nhiều cơ hội cho hàng hóa xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam như nông sản, dệt may, giày dép, điện tử… tạo tiền đề cho thu hút đầu tư, cho phát triển sản xuất trong nước và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thông qua đàm phán, ta đã chủ động xử lý hợp lý các rào cản kỹ thuật của các đối tác thương mại theo hướng có lợi cho hàng xuất khẩu của ta, mở cửa được thị trường cho nhiều loại nông sản, thủy, hải sản và các sản phẩm khác trên những thị trường khó tính hoặc thị trường mới với mức thuế thấp hơn trước.
Nhờ tận dụng bước đầu hiệu quả những cơ hội mang lại từ việc mở cửa, phát triển thị trường, sản xuất công nghiệp và cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự dịch chuyển tích cực theo hướng tăng dần hàm lượng chế biến, công nghệ cao trong sản xuất và xuất khẩu, giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô hoặc hàm lượng gia công tỉ trọng cao.
Từ đây có thể rút ra mối quan hệ 2 chiều, đó là những chuyển biến tích cực về sản xuất công nghiệp và thương mại trong nước giúp ta hội nhập mạnh mẽ hơn; đồng thời, việc tận dụng tốt các cơ hội mang lại từ hội nhập cũng góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng và Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Thương mại và Năng lượng Hàn Quốc Yoon Sang Jick trao văn kiện kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc với sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye.
TCCT: Xin Bộ trưởng cho biết thêm ở điểm này?
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Các FTA không chỉ tạo thuận lợi cho xuất khẩu mà còn góp phần thu hút đầu tư, cải tiến công nghệ và năng lực sáng tạo, từ đó làm tăng hiệu suất cho sản xuất trong nước; giúp dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và giá trị gia tăng của hàng hóa.
Nhiều tập đoàn danh tiếng nhất trên thế giới về cơ khí, điện tử, viễn thông, hóa chất đã có mặt tại Việt Nam do sức hấp dẫn của nền kinh tế được tạo ra từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Công nghiệp ô tô đã hội tụ nhiều nhà chế tạo hàng đầu thế giới như Mercedes, Huyndai, Toyota, Honda, Ford… Công nghiệp điện tử, đã thu hút thành công các tập đoàn Samsung, Intel, Electronics, Nokia, Canon…
Bước đầu hình thành ngành công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp chế tạo, trong đó có cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia.
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện cả nước có khoảng 290 khu công nghiệp, gần 5.000 dự án FDI, có vốn đầu tư trên 70 tỷ USD. Hàng năm số vốn đầu tư tăng thêm chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong đó có 56% vốn FDI đổ vào công nghiệp chế biến, chế tạo. Xu hướng này gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây: năm 2011 có 50% số vốn đầu tư vào công nghiệp chế tạo/tổng vốn FDI; năm 2012 là 70%; năm 2013 là 72%; năm 2014 là 76,6% và 2015 ước chiếm trên 80%.
Xu hướng này rõ ràng là kết quả từ những bước đi mạnh mẽ về hội nhập của nước ta so với nhiều nước trong khu vực khi chủ động đàm phán, ký kết FTA với các thị trường lớn nhất thế giới (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc), đặc biệt là với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây là điều kiện để các tập đoàn đa quốc gia sản xuất công nghiệp đã và sẽ tìm đến Việt Nam trong thời gian tới.
Tuy nhiên, cần tiếp tục nhấn mạnh rằng chúng ta đã rất nỗ lực thông qua hội nhập, đàm phán FTA để tạo ra cơ hội, nhưng tận dụng hiệu quả cơ hội mới mang lại, giảm thiểu và mặt khác biến thách thức thành cơ hội trong hội nhập quốc tế là cả một quá trình đòi hỏi sự tiếp tục cố gắng, nỗ lực không ngừng của doanh nghiệp và các cấp, các ngành.
Với vai trò là cơ quan thông tin nghiên cứu, lý luận của ngành Công Thương, tôi mong rằng Tạp chí Công Thương sẽ thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ trong giai đoạn mới, giai đoạn nhiều định chế thương mại song phương, đa phương mà chúng ta đã ký kết sẽ đi vào thực thi.
Nhân dịp năm mới Bính Thân 2016, thay mặt Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ Công Thương, tôi xin gửi tới các đồng chí lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên, nhân viên và bạn đọc Tạp chí Công Thương lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công. Chúc Tạp chí Công Thương ngày càng đổi mới, phát triển.
TCCT: Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!
Theo tapchicongthuong.vn