Nguyên tắc sử dụng thị trường như một cơ chế chủ yếu để phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực càng thể hiện rõ trong quá trình thực thi các cam kết trong FTA mà nước ta tham gia.
Xu hướng từ mô hình kinh tế lượng
Năm 2014, 2015, khi Việt Nam ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thì cũng là lúc nở rộ phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng để tính toán những tác động có thể lượng hóa được đối với nền kinh tế nước ta.
Cụ thể, theo mô hình kinh tế lượng, FTA với Hàn Quốc giúp Việt Nam tăng trưởng xuất khẩu vào nước này khoảng 18 - 20%/năm; tăng thêm từ 1,47 - 3,22% vào mức tăng trưởng GDP chung.
Với EU, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang khối này khoảng 10%/năm từ khi EVFTA có hiệu lực đến năm 2025; tăng thêm 7 - 8% vào mức tăng trưởng GDP chung.
Với TPP, nước ta tăng thêm 1,03 - 2,11% về tốc độ tăng trưởng đầu tư và tiêu dùng; GDP Việt Nam cũng tăng thêm về giá trị tuyệt đối khoảng từ 1,4 tỷ USD đến 2,9 tỷ USD/năm.
Những con số trên có đáng tin cậy không? Rất tin cậy, vì có đến 11 học giả đoạt giải Nobel kinh tế sử dụng mô hình kinh tế lượng từ năm 1969 đến năm 2011, tức là chúng được ứng dụng hơn 40 năm, qua các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế thế giới.
Các con số trên có chính xác không? Không chắc chính xác, vì mô hình tức là dựa trên một số số liệu mang tính giả định (tĩnh); và ít nhất mô hình chưa có khả năng đo lường những tác động của biến động của kinh tế thế giới đến nước ta; không có khả năng tính toán cụ thể việc tận dụng cơ hội của Nhà nước và doanh nghiệp nước ta, cũng như đối sách của nước đối tác trong FTA.
Điều mà ta có thể “nghe” được từ mô hình kinh tế lượng là xu hướng, trong trường hợp cụ thể này là xu hướng kinh tế Việt Nam sẽ tốt hơn lên.
Các FTA thế hệ mới là những Hiệp định toàn diện, cân bằng lợi ích, với những cam kết mở cửa thị trường sâu rộng cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao và những cam kết về thể chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước… nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh công bằng.
Mục tiêu của các nước trong đàm phán, ký kết và thực hiện các FTA chủ yếu xoay quanh tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng GDP. Với nước ta, tham gia vào các FTA, hay nói rộng hơn là hội nhập kinh tế quốc tế còn là một nội hàm quan trọng nhằm thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
Song cả 3 mục tiêu (tăng trưởng xuất khẩu, tăng trưởng GDP, hoàn thiện thể chế) đều là đích đến, còn phương tiện thực hiện phải là sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Sức cạnh tranh ấy tỷ lệ thuận với môi trường kinh doanh.
Các FTA sẽ thúc đẩy hình thành mạng sản xuất và chuỗi cung ứng mới trong thị trường các nước thành viên. Nhưng nếu khả năng cạnh tranh kém, Việt Nam chỉ nắm giữ được những công đoạn có giá trị gia tăng không cao. Ông Stan Shi đã mô hình hóa chuỗi giá trị gia tăng bằng hình ảnh mà chúng ta quen gọi là “Nụ cười Stan Shi”: Nếu môi trường kinh doanh tốt, khả năng cạnh tranh cao sẽ giúp chúng ta chiếm lĩnh nửa trên của nụ cười và ngược lại.
Dùng thị trường để phân bổ nguồn lực
Theo nghĩa trực tiếp nhất, doanh nghiệp là “người” tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm và nền kinh tế, nhưng trung tâm nuôi dưỡng cho sức cạnh tranh ấy chính là thể chế, là khung khổ pháp lý, hay từ được dùng phổ biến hơn là môi trường kinh doanh.
Một môi trường kinh doanh được coi là tiến bộ khi hoàn chỉnh 2 yếu tố sau. Trước hết, xác định đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước phải thực hiện tốt chức năng kiến tạo phát triển, nhất là ổn định kinh tế vĩ mô; xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và tổ chức bộ máy quản lý để tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh công bằng.
Thứ hai, sử dụng thị trường như một cơ chế chủ yếu để phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực, trên cơ sở quan hệ cung cầu, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn các mối quan hệ trên đây, chúng ta đang khẩn trương hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và cam kết trong các Hiệp định FTA, nhất là các FTA thế hệ mới với tinh thần đổi mới toàn diện, đồng bộ.
Cụ thể, thời gian qua các cơ quan liên quan đang nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành một số luật như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đấu thầu… trên cơ sở các cam kết của nước ta trong các FTA thế hệ mới.
Hiện các bộ, ban, ngành đang tiến hành đối chiếu so sánh giữa các cam kết trong FTA với luật đã được Quốc hội phê chuẩn để làm rõ những khác biệt. Từ đó, chuẩn bị các phương án trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung.
Trong bài trả lời phỏng vấn Báo Tuổi trẻ ngày 10/4/2016, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cũng nhấn mạnh vai trò này “Trước hết, phải xác định mục tiêu kiên định và xuyên suốt trong điều hành của Chính phủ là xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hoàn chỉnh. Nghĩa là những nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường phải được xây dựng đồng bộ”.
Đồng thời, khẳng định Bộ Công Thương sẽ kiên trì lộ trình thị trường đối với một số loại hàng hóa mà Nhà nước đang kiểm soát giá: Chủ trương và giải pháp đã rõ. Bộ Công Thương dù lĩnh vực rất rộng, có những tồn tại của thể chế hay có phức tạp trong quản trị doanh nghiệp nhà nước, thì vẫn phải xác định hướng tới mục tiêu thị trường đầy đủ cho dù đó là điện, than, hay xăng dầu…
Bước triển khai thực hiện tất nhiên sẽ cần cân nhắc phù hợp với trình độ phát triển hiện tại, khắc phục những tồn tại trước kia nhưng ta phải chấp nhận những nguyên tắc chung của kinh tế thị trường.
Nguyên tắc sử dụng thị trường như một cơ chế chủ yếu để phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực, càng thể hiện rõ trong quá trình thực thi các cam kết trong FTA mà nước ta tham gia.
Thí dụ như nguồn nhân lực. Vốn nhân lực cao giúp cho kỹ sư và công nhân dễ dàng hấp thu các công nghệ tiên tiến nước ngoài và cho phép tạo ra các công nghệ quốc gia. Nhưng để đẩy nhanh quá trình tích lũy vốn, cần tạo ra môi trường thể chế sao cho đảm bảo tính tương quan chặt chẽ giữa trình độ, chuyên môn nghiệp vụ với mức thu nhập.
Đây chính là quá trình thị trường hóa sức lao động. Khi vốn nhân lực được phân bổ vào nơi hiệu quả nhất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao; và cũng là điều kiện để thu hút vốn FDI và công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Và khi đó, khả năng “thăng hạng” hướng lên nửa trên của " Nụ cười Stan Shi" trong chuỗi giá trị gia tăng của nước ta sẽ ngày càng hiện thực hơn.
Theo tapchicongthuong.vn