Sau 2 tháng triển khai thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, sáng ngày 17/10/2020 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị Đánh giá công tác thực thi Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) với sự tham gia của 150 đại biểu gồm: đại diện Bộ Công Thương; đại diện lãnh đạo Sở Công Thương một số tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương; các cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa được Bộ Công Thương ủy quyền; các Hiệp hội, ngành hàng và doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh phát biểu tại Hội nghị
Theo số liệu từ Bộ Công Thương, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU đã có kết quả tích cực từ khi EVFTA được thực thi. Tổng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU và Anh trong tháng 8/2020 đạt 3,77 tỷ USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2019. Trong tháng 9, tổng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU và Anh đạt 3,54 tỷ USD, tăng 7,9%.
Tính đến ngày 12/10 các tổ chức được ủy quyền cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) đã cấp khoảng 23.800 bộ C/O mẫu EUR.1 với kim ngạch khoảng 963 triệu USD đi 28 nước EU. Ngoài ra các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang EU còn thực hiện tự chứng nhận xuất xứ cho trên 660 lô hàng với trị giá khoảng 2 triệu USD. Thị trường nhập khẩu đa phần là các nước có cảng biển và trung tâm phân phối, trung chuyển của EU như Bỉ, Đức, Hà Lan, Pháp, Anh Quốc. Trong đó nhiều lô hàng đã tới thị trường EU, thông quan và được hưởng ưu đãi.
Tỷ lệ sử dụng C/O mẫu EUR.1 trong tổng kim ngạch xuất khẩu tháng 8 năm 2020 đạt 8,64% và tăng lên 14,65% vào cuối tháng 9 năm 2020. 10 mặt hàng có kim ngạch cấp C/O mẫu EUR.1 cao nhất trong 2 tháng 8 và 9 năm 2020 lần lượt là: giày dép đạt 390,86 triệu USD; hàng thủy sản đạt 183,4 triệu USD; nhựa và sản phẩm từ nhựa đạt 49,1 triệu USD; hàng dệt may đạt 27,08 triệu USD; cà phê đạt 14,04 triệu USD; rau quả đạt 13,32 triệu USD; sắt thép và sản phẩm sắt thép đạt 11,3 triệu USD; phương tiên vận tải và phụ tùng đạt 7,95 triệu USD; cao su và sản phẩm cao su đạt 6,67 triệu USD; gạo 3,98 triệu USD. So với các FTA khác của Việt Nam mới thực thi trong thời gian gần đây như Hiệp định CPTPP, FTA giữa ASEAN và Hong Kong, Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Cuba…, số lượng C/O mẫu EUR.1 theo Hiệp định EVFTA có sự khác biệt đáng kể.
Tại Hội nghị, Lãnh đạo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam; Lãnh đạo Hiệp hội Da – Giày – Túi xách Việt Nam đã trao đổi về những khó khăn, thuận lợi trong công tác thực thi Quy tắc xuất xứ hàng hóa, các vấn đề về phát triển bền vững, đáp ứng các tiêu chuẩn lao động, môi trường… đồng thời đưa ra những vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm hiện nay là thông tin về thị trường Anh sau Brexit để doanh nghiệp có kế hoạch kinh doanh trong thời gian tới.
Trong phần thảo luận các chuyên gia của Cục Xuất nhập khẩu đã chia sẻ, hướng dẫn về cách xác định tiêu chí xuất xứ hàng hóa một số mặt hàng mà doanh nghiệp quan tâm như dệt may, thủy sản… đồng thời thông tin thêm hiện EU vẫn dành chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho Việt Nam, tuy nhiên đây là ưu đãi đơn phương phụ thuộc vào EU, còn EVFTA là ưu đãi song phương giữa Việt Nam và EU. Doanh nghiệp nên liên hệ với khách hàng tại EU để biết sản phẩm áp dụng quy tắc xuất xứ theo mẫu nào để có thể tận dụng tốt nhất ưu đãi về thuế quan.
Phát biểu kết thúc Hội nghị, lãnh đạo Cục Xuất nhập khẩu lưu ý các doanh nghiệp, do quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định EVFTA yêu cầu sự tham gia lớn của nguồn nguyên liệu trong khu vực FTA, các doanh nghiệp cần nâng cao năng lực sản xuất, chế biến sâu, tìm kiếm nguồn nguyên liệu trong khu vực hoặc phát triển các nguồn nguyên liệu từ trong nước. Đồng thời, doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu, tham gia các hoạt động tập huấn chuyên sâu để có thể hiểu rõ, hiểu đúng các quy định về quy tắc xuất xứ, tự tin áp dụng. Trong bối cảnh hàng hóa Việt Nam có nhiều cơ hội hưởng ưu đãi về thuế quan tại các thị trường FTA, quy tắc xuất xứ chính là công cụ giúp hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên đây cũng là điểm dễ bị lợi dụng nếu sản phẩm của nước ngoài chỉ gia công đơn giản tại Việt Nam (lắp ghép, đóng gói) nhằm mượn xuất xứ Việt Nam. Do đó doanh nghiệp cần có hệ thống lưu trữ chứng từ đầy đủ để chứng minh được xuất xứ hàng hóa khi có yêu cầu hậu kiểm, đảm bảo hiệu quả công tác xác minh xuất xứ, giúp C/O được hải quan chấp nhận và hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan. Ngoài ra, để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh các doanh nghiệp cần chú trọng vấn đề vệ sinh thực phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn và quy trình quản lý do EU quy định, coi trọng trách nhiệm xã hội, minh bạch hóa thông tin về lao động, môi trường sản xuất, đặc biệt đảm bảo quy tắc xuất xứ khi xuất khẩu vào EU.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp, triển khai những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng EVFTA; tăng cường công tác thông tin giúp doanh nghiệp định hướng sản xuất phục vụ xuất khẩu thông qua việc chỉ đạo hệ thống Thương vụ tại nước ngoài thường xuyên cập nhật, nắm bắt thông tin thị trường và các vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam như sự thay đổi chính sách của nước nhập khẩu, các rào cản kỹ thuật, rủi ro trong thanh toán, các hoạt động tuyên truyền thiếu thiện chí đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam để kịp thời thông tin để các Bộ, ngành, Hiệp hội và doanh nghiệp có phản ứng kịp thời. Đồng thời, tăng cường các biện pháp chống gian lận xuất xứ để bảo vệ các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam trước rủi ro của những vụ kiện chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại; tăng cường công tác hậu kiểm tại tổ chức cấp C/O và các doanh nghiệp đề nghị cấp C/O; chủ động phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu trong trường hợp có yêu cầu xác minh xuất xứ./.
Quỳnh Hương - P.QL TM-XNK